Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023

Việt Nam có “chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự”?

 


 “NPR dẫn lời các chuyên gia nhân quyền nói các vụ bắt giữ là một phần của chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự trong những năm gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam” là sự xuyên tạc, vu khống của những kẻ chống phá, làm cho người đọc hiểu sai bản chất các vụ án, vụ việc trong thời gian qua.

Ở Việt Nam, mọi cá nhân, hội, tổ chức phi chính phủ đều được bảo đảm hoạt động bình thường theo đúng quy định, đồng thời tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của mình. Chỉ những người vi phạm pháp luật, những người phạm tội mới bị bắt, giam giữ và điều tra, xét xử. Không có việc Việt Nam “giam giữ tùy tiện các nhà bảo vệ môi trường” hay bắt giữ những người “bất đồng chính kiến” như thông tin của các trang mạng xã hội. Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ luôn tố cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền, bắt bớ, giam cầm tùy tiện, tuyên án nặng đối với các nhà báo, bloggers, Facebookers, các nhà hoạt động xã hội, lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự”. Vậy ở Mỹ thì sao? Mỹ có vi phạm nhân quyền không? Có bắt người tùy tiện không? Mỹ có quyền gì để phán xét các quốc gia vi phạm nhân quyền ?

Trả lời các câu hỏi này, tôi xin nêu nội dung trả lời của Ông Ben Swanton, đồng Giám đốc Dự án 88 (Project88) khi BBC hỏi: Vì sao bắt và giam giữ tùy tiện vẫn tiếp diễn ở Việt Nam? Các tổ chức quốc tế có liên quan có thể làm gì để buộc Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những việc này? Ông Ben Swanton đã trả lời rằng: “Hành động quan trọng nhất mà các nước phương Tây vốn tự hào là có chính phủ dân chủ và pháp quyền có thể làm để giải quyết việc vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là bản thân họ cũng phải ngưng vi phạm nhân quyền. Thật đạo đức giả khi các chính phủ này chỉ trích Việt Nam giam giữ tùy tiện ông Đặng Đình Bách và những nhà hoạt động khác trong khi cũng chính họ, đặc biệt là Mỹ, cũng giam giữ người trái pháp luật. Bắt đầu từ 20 năm trước, khi George W. Bush tuyên bố một ‘cuộc chiến khủng bố’. Hoa Kỳ đã giam giữ một cách có hệ thống và tùy tiện hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn người Hồi giáo, đồng thời bắt cóc và đưa người tới các nước vốn nổi tiếng về tra tấn. Ngày nay, Hoa Kỳ tiếp tục giam giữ người mà không có thủ tục tố tụng tại Vịnh Guantánamo Bay. Chừng nào Mỹ tiếp tục bắt giữ người một cách phi pháp thì họ sẽ còn thiếu thẩm quyền đạo đức và tính hợp pháp quốc tế cần thiết để lên án việc bắt giữ tùy tiện ở nước ngoài. Điều này cũng đúng với chính phủ Úc – nơi đang thực hành giam giữ tùy tiện và vô thời hạn người tỵ nạn và người xin tỵ nạn” (Nội dung này được tác giả Mỹ Hằng nêu trong bài “Vụ Đặng Đình Bách: LHQ nói ‘Việt Nam vi phạm luật pháp quốc tế về giam giữ tùy tiện’, đăng trên BBC News Tiếng Việt, ngày 24/5/2023).

Tại sao chính phủ Hoa Kỳ luôn cho mình cái quyền được phán xét, tố cáo các quốc gia khác vi phạm nhân quyền, cũng như can thiệp vào công việc nội bộ, được ra lệnh cấm vận, trừng phạt các quốc gia khác ? Hiểu thêm về vấn đề này, tôi xin nêu ý kiến của Ông Ron Paul, cựu ứng viên Tổng thống Mỹ trong bài viết về “Sự sụp đổ của đồng đô la đã bắt đầu”, mới đây đăng trên ấn phẩm Info Brics: “Những gì đang xảy ra sẽ không làm ai ngạc nhiên, bởi vì thế giới đã quá mệt mỏi với chính sách can thiệp mà chính quyền Mỹ đã tiến hành trong suốt thời gian qua. Chúng ta là một chính phủ theo chủ nghĩa can thiệp. Chúng ta can thiệp vào tự do cá nhân, chúng ta can thiệp về tự do kinh tế. Chúng ta can thiệp vào công việc nội bộ của tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Chúng ta luôn luôn bảo họ phải làm gì, chúng ta áp dụng các biện pháp hà khắc để trừng phạt những quốc gia khác. Và sau đó thật ngạc nhiên với cách nước Mỹ đưa ra phản ứng”.

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

Phil Robertson nhân danh “theo dõi nhân quyền” bao biện cho kẻ vi phạm pháp luật

 


Ngay sau khi phiên phúc thẩm xử Trương Văn Dũng về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” kết thúc, trong bài “HRW lên tiếng việc ông Trương Văn Dũng bị y án 6 năm tù” đăng phát trên VOA tiếng Việt, ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban châu Á của cái gọi là tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW – Human Rights Watch) ở Hoa Kỳ đã nói rằng: “Không có gì ngạc nhiên khi ông Trương Văn Dũng không được giảm án vì các phiên tòa phúc thẩm của Việt Nam đã trở thành một trò đùa buồn cười, chỉ nhằm mục đích gieo hy vọng hão huyền và đánh lừa cộng đồng quốc tế…”. Ngoài ra, trên một số trang web phản động ở nước ngoài, ông Phil Robertson còn có những phát biểu bộc lộ rõ quan điểm bênh vực, che chắn, đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng. Trong khi đó trên thực tế, hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trương Văn Dũng là rất rõ ràng.

Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy, từ tháng 10-2015 đến tháng 5-2022, thông qua trả lời chương trình “Từ cánh đồng mây” tại một file video và một file audio, Trương Văn Dũng có hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu “chiến tranh tâm lý,” phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân thông qua các bài phỏng vấn, video, clip đăng tải trên mạng xã hội.

Bị cáo còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân…Bên cạnh đó, bị cáo còn có 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mọi tình tiết liên quan đến vụ án đã rõ như ban ngày, thế nhưng trong con mắt của ông Robertson, Trương Văn Dũng chỉ là “nhà hoạt động chính trị”; “thực hiện quyền tự do ngôn luận”; “thực hành các quyền tự do biểu đạt, lập hội và nhóm họp ôn hòa” …”; “đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”… Những phát biểu của ông Robertson cho thấy rõ sự hồ đồ, xuyên tạc, cái nhìn thiển cận, chủ quan, phiến diện về Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, tại Điều 29 của chính văn bản này cũng khẳng định: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”. Nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon cũng từng khẳng định rõ rằng: “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng”. Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong khuôn khổ pháp luật. Ví như Điều 18 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”…

Rõ ràng hành vi của Trương Văn Dũng vừa trái với Công ước quốc tế, vừa vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận, bảo đảm việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội của công dân nhưng phải theo quy định của pháp luật. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều không thể chấp nhận.

Vậy tại sao ông Phil Robertson lại bảo vệ Trương Văn Dũng? Ông Phil Robertson đang toan tính điều gì sau sự việc này? Dư luận chẳng lạ gì tâm địa của ông và cái gọi là tổ chức Theo dõi nhân quyền. Lâu nay, tổ chức này ở Hoa Kỳ và một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài thường lợi dụng những vụ việc tương tự để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc chống phá Việt Nam. Cụ thể hơn, họ vẫn mưu toan gây sức ép đòi Việt Nam thay đổi những nội dung trong Bộ luật Hình sự quy định về tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”… Những lời nói và việc làm của ông Phil Robertson đã cho thấy rõ ông và HRW đang cố tình đội lốt “theo dõi nhân quyền”, coi tự do, dân chủ, nhân quyền là tấm bình phong để tung hô, cổ xúy cho những hành động sai trái, vi phạm pháp luật, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 

Thứ Hai, 24 tháng 7, 2023

Nói với Phạm Đình Trọng: có phải “Quốc hội nghe lời quan, nhưng làm ngơ đòi hỏi của dân” ?

 


Trên trang baotiengdan.com ngày 7/7/2023 đăng bài viết nêu trên của ông Phạm Đình Trọng nhắm vào xuyên tạc, bóp méo bản chất nội dung kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV.

Trước hết, Quốc hội là cơ quan đại biểu cao nhất của Nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã được hiến định trong Hiến pháp 2013 và đó là cơ quan thực hiện quyền lập hiến, quyền lập pháp; quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước; giám sát tối cao đối với hoạt động của Nhà nước.

Chỉ xét riêng việc quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, đã thấy rõ rằng, chức năng của Quốc hội là quyết định mục tiêu, chỉ tiêu, chính sách, nhiệm vụ cơ bản phát triển kinh tế – xã hội của đất nước (khoản 3, Điều 70); quyết định chính sách cơ bản về tài chính, tiền tệ quốc gia; quy định, sửa đổi hoặc bãi bỏ các thứ thuế; quyết định phân chia các khoản thu và nhiệm vụ chi giữa ngân sách trung ương và ngân sách địa phương; quyết định mức giới hạn an toàn nợ quốc gia, nợ công, nợ chính phủ; quyết định dự toán ngân sách nhà nước và phân bổ ngân sách trung ương, phê chuẩn quyết toán ngân sách nhà nước (khoản 4, Điều 70); quyết định chính sách dân tộc, chính sách tôn giáo của nhà nước (khoản 5, Điều 70); quyết định vấn đề chiến tranh và hòa bình và quy định về tình trạng khẩn cấp, các biện pháp đặc biệt khác bảo đảm quốc phòng và an ninh quốc gia (khoản 13, Điều 70); quyết định chính sách cơ bản về đối ngoại; phê chuẩn, quyết định gia nhập hoặc chấm dứt hiệu lực của điều ước quốc tế liên quan đến chiến tranh, hòa bình, chủ quyền quốc gia, tư cách thành viên của Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tại các tổ chức quốc tế và khu vực quan trọng, điều ước quốc tế về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và các điều ước quốc tế khác trái với luật, nghị quyết của Quốc hội (khoản 14, Điều 70); quyết định trưng cầu ý dân (khoản 15, Điều 70)…

Vì thế, chỉ cần Phạm Đình Trọng đọc lại những nội dung được quy định tại Điều 70 của Hiến pháp 2013 là sẽ thấy được Quốc hội sẽ, đã và đang hoạt động thế nào tại mỗi kỳ họp? sẽ quyết định những nội dung quan trọng gì liên quan đến sự phát triển kinh tế, văn hóa, giáo dục, xã hội để đảm bảo sự ổn định, bền vững của quốc gia – dân tộc, đến cuộc sống an lành và trật tự trị an của người dân… chứ không phải là cào bàn phím lấy được để quy chụp rằng “được Quốc hội mau mắn chấp nhận luật Cảnh Sát Cơ Động, bộ Công An liền trình tiếp ngay dự luật Lực Lượng Tham Gia Bảo Vệ An Ninh” hay cho rằng “lấy cớ bảo vệ an ninh, trật tự, Bộ Công An liên tục đòi tăng tướng, tăng quân, tăng trang bị, tăng chi ngân sách nhà nước cho công an và đều được Quốc hội mau mắn đáp ứng”, trong khi đó thì “nhiều vụ việc gây bất ổn xã hội, làm bất an lòng dân lại từ công an”…

Hai là, Quốc hội và mỗi kỳ họp của Quốc hội đều có kế hoạch, chương trình cụ thể, không phải là hoạt động tự phát hay chỉ làm những gì “quan yêu cầu” mà không đoái hoài gì đến những điều người dân “mong mỏi” như Phạm Đình Trọng bịa đặt, bôi đen, vu khống. Thực tế, những con số ấn tượng về khối lượng công việc và những nội dung quan trọng đã được quyết định tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV được thông tin đầy đủ trên các phương tiện báo chí, truyền thông và trong thông cáo báo chí về kỳ họp này đã cho thấy sự ngớ ngẩn đến nực cười của người viết.

Cụ thể, với tinh thần đổi mới, đoàn kết, dân chủ, trí tuệ, khẩn trương và trách nhiệm cao, Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra,  với kết quả đã thông qua Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, Luật Đấu thầu, Luật Giá, Luật Giao dịch điện tử, Luật Hợp tác xã, Luật Phòng thủ dân sự, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam và Luật Nhập cảnh, xuất cảnh, quá cảnh, cư trú của người nước ngoài tại Việt Nam; đã thông qua Nghị quyết về việc lấy phiếu tín nhiệm, bỏ phiếu tín nhiệm đối với người giữ chức vụ do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn, Nghị quyết về thí điểm một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển Thành phố Hồ Chí Minh, Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2024, điều chỉnh Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023…

Ngoài ra, Quốc hội cũng cho ý kiến về các dự án luật gồm: Dự án Luật Đất đai (sửa đổi), Dự án Luật Kinh doanh bất động sản (sửa đổi), Dự án Luật Nhà ở (sửa đổi), Dự án Luật Tài nguyên nước (sửa đổi), Dự án Luật Viễn thông (sửa đổi), Dự án Luật Quản lý, bảo vệ công trình quốc phòng và khu quân sự, Dự án Luật Căn cước công dân (sửa đổi), Dự án Luật Các tổ chức tín dụng (sửa đổi), Dự án Luật Lực lượng tham gia bảo vệ an ninh, trật tự tại cơ sở. Đồng thời, giám sát tối cao chuyên đề “Việc huy động, quản lý và sử dụng các nguồn lực phục vụ công tác phòng, chống dịch Covid-19; việc thực hiện chính sách, pháp luật về y tế cơ sở, y tế dự phòng”; tiến hành chất vấn và trả lời chất vấn; xem xét, quyết định các vấn đề về nhân sự, kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước; xem xét các báo cáo về kiến nghị của cử tri và giải quyết các kiến nghị của cử tri cùng một số nội dung quan trọng khác…

Nêu lại một số nội dung cơ bản đã hoàn thành tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XV mà Phạm Đình Trọng viễn dẫn, để thấy được rằng chỉ cần là một người bình thường (không bị thiểu năng trí tuệ) thì tất yếu sẽ không hàm hồ nhận định “quan đòi quyền gì đều được Quốc hội làm ngay luật về quyền đó. Dân đỏ mắt chờ luật bảo đảm những quyền tối thiểu của dân, suốt mấy chục năm Quốc hội vẫn làm ngơ” để xuyên tạc sự thật và bôi nhọ Quốc hội như người viết bài này đã làm.

Có thể khẳng định rằng: Xuất phát từ yêu cầu, điều kiện cụ thể của thực tiễn, Quốc hội đã thông qua Luật Cảnh sát cơ động (kỳ họp thứ 3); đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Công an nhân dân (tăng thêm 6 vị trí cấp tướng..); xem xét dự luật về Lực lượng an ninh trật tự ở cơ sở tại kỳ họp thứ 5 và sẽ thông qua tại kỳ họp thứ 6… là những quyết định quan trọng, cần thiết và đúng thẩm quyền của Quốc hội. Còn việc thực thi Luật giáo dục 2019 thống nhất trên cả nước và đi liền cùng đó vẫn còn những hạn chế cần phải tiếp tục khắc phục trong việc dành, ưu tiên nguồn kinh phí cho giáo dục hay xây dựng nhiều hơn nữa hệ thống bệnh viện, trạm y tế để chăm sóc sức khỏe cho người dân không phải là công việc một sớm, một chiều và cũng không phải chỉ riêng một kỳ họp của Quốc hội là quyết định được. Cho nên, đừng có nhân danh dân chủ, đấu tranh cho dân chủ để quy chụp theo chủ kiến cá nhân bằng việc xuyên tạc, cắt cúp thông tin.

Đánh giá một vấn đề, nhất là những vấn đề liên quan đến quốc kế dân sinh, đòi hỏi người nhận định phải khách quan, phải nhìn từ nhiều chiều cạnh, chứ không phải để cảm xúc cá nhân chi phối rồi thông tin sai sự thật kiểu “chiếc bánh ngân sách dành phần lớn cho công cụ bạo lực thì chỉ còn phần nhỏ bé, hẩm hiu chia cho chính sách xã hội, cho giáo dục, văn hoá và y tế” để kích động, gây tâm lý hoang mang trong cộng đồng như Phạm Đình Trọng. Vì thế, đừng có hoạt ngôn, xảo biện để gây rối bằng những suy diễn vừa ngớ ngẩn vừa man trá của mình, vì thật ra điều cuối cùng mà Phạm Đình Trọng bậm bạch cũng vẫn là, dù “Hiến pháp nào cũng xác nhận quyền tự do ngôn luận, quyền tự do báo chí, quyền tiếp cận thông tin, quyền hội họp, lập hội, quyền biểu tình của người dân”, song những bộ luật về tự do ngôn luận, luật lập hội, luật biểu tình… vẫn không được Quốc hội thông qua. Và cũng vì thế, muốn nói với Phạm Đình Trọng là Quốc hội không bao giờ “lạnh lùng làm ngơ” hay “không ngó ngàng” trước những đòi hỏi của thực tiễn, những yêu cầu chính đáng của người dân và sự tồn vong của Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa. Cũng như, Quốc hội sẽ tiếp tục thực hiện đúng chức năng, nhiệm vụ của mình trong xây dựng, bổ sung, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật để mỗi người dân Việt Nam được đảm bảo, được thụ hưởng ngày càng đầy đủ hơn quyền con người và quyền công dân trên các lĩnh vực của đời sống xã hội./.

Chủ Nhật, 23 tháng 7, 2023

Màn tung hứng cho RSF của BBC

 


Trang BBC tiếng Việt vừa đăng tải tuyến bài với tiêu đề: “Báo chí Việt Nam có đang chịu cảnh một cổ “ba bốn tròng”?” ngay khi tổ chức Phóng viên Không biên giới (RSF) công bố bảng xếp hạng tự do báo chí năm 2022 ới luận điệu vu cáo ở Việt Nam một cơ quan báo chí: “…có thể chịu cảnh một cổ “ba bốn tròng” từ Đảng Cộng sản Việt Nam, chính quyền các cấp, bộ ngành và cơ quan chủ quản”…

Không biết BBC NEWS không hiểu hay cố tình không hiểu về tự do báo chí nói chung và công tác quản lý báo chí nói riêng. Theo cách hiểu phổ quát, quản lý là quá trình tác động, điều khiển, điều hành các hoạt động xã hội và hành vi của con người theo những yêu cầu nhất định. Quản lý được thực hiện bằng tổ chức và quyền uy. Có tổ chức thì mới phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ của những người tham gia hoạt động chung. Có quyền uy thì mới bảo đảm sự phục tùng của cá nhân với tổ chức. Hiểu theo nghĩa rộng quản lý nhà nước bao gồm toàn bộ hoạt động của cả bộ máy nhà nước từ lập pháp, hành pháp đến tư pháp vận hành như một thực thể thống nhất. Theo nghĩa hẹp quản lý nhà nước là hướng dẫn chấp pháp, điều hành, quản lý hành chính do cơ quan hành pháp thực hiện bảo đảm bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Quản lý nhà nước đối với báo chí là toàn bộ những hoạt động của bộ máy chính quyền hướng tới sự bảo đảm để báo chí hoạt động ổn định và phù hợp với xu thế phát triển chung của xã hội. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là dạng quản lý công vụ quốc gia của bộ máy nhà nước – là công việc của bộ máy hành pháp. Quản lý nhà nước trong lĩnh vực báo chí là sự tác động của các tổ chức và được điều chỉnh bằng pháp luật trên cơ sở quyền lực nhà nước đối với các hoạt động báo chí do các cơ quan có thẩm quyền trong bộ máy hành pháp từ trung ương đến cơ sở, để thực hiện chức năng và nhiệm vụ của nhà nước, phát triển các mối quan hệ xã hội thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của nhân dân.

Như vậy, cần phải thấy rõ chủ thể, khách thể, đối tượng, mục đích của hoạt động quản lý nhà nước thì mới có thể đạt tới tự do chân chính của báo chí, trong đó chủ thể là các cơ quan trong bộ máy hành pháp của nhà nước hay các cá nhân có thẩm quyền quản lý chuyên ngành về hoạt động báo chí được nhà nước trao quyền. Khách thể của quản lý nhà nước đối với báo chí là trật tự quản lý trong quá trình truyền đạt, tiếp nhận và trao đổi thông tin nhằm thiết lập mối quan hệ giữa con người với con người. Đối tượng của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là tất cả những tổ chức, cá nhân thực hiện những hoạt động liên quan đến báo chí. Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là phát triển các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, bảo đảm quyền tự do báo chí và ngôn luận.

Ở Việt Nam, Điều 4 Luật Báo chí số 103/2016/QH13 ngày 05 tháng 4 năm 2016 của Quốc hội, có hiệu lực kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2017, được sửa đổi, bổ sung bởi Luật số 35/2018/QH14 ngày 20 tháng 11 năm 2018 quy định: “Báo chí ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phương tiện thông tin thiết yếu đối với đời sống xã hội; là cơ quan ngôn luận của cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước; tổ chức chính trị – xã hội; tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp; là diễn đàn của Nhân dân.” Như vậy, theo quy định của pháp luật Việt Nam, báo chí cũng là một đối tượng cần sự quản lý của Nhà nước.

Đảng và Nhà nước Việt Nam đánh giá cao vai trò của báo chí đối với đời sống xã hội. Báo chí là tiếng nói của Đảng, Nhà nước, của tổ chức chính trị – xã hội và là diễn đàn của nhân dân, đặt dưới sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng, sự quản lý của Nhà nước và hoạt động trong khuôn khổ pháp luật. Đảng lãnh đạo báo chí bằng việc định hướng chính trị thông qua nghị quyết, và thông qua Nhà nước. Sự lãnh đạo của Đảng đối với báo chí không những không làm hạn chế việc thông tin tuyên truyền của báo chí, sự tự do tác nghiệp của người làm báo mà còn giúp báo chí phát triển đúng theo mục tiêu, định hướng, tôn chỉ, mục đích.

Nhà nước cụ thể hoá đường lối, chủ trương của Đảng thành hệ thống chính sách, pháp luật… tạo nên hành lang pháp lý cho hoạt động của báo chí. Theo quy định của Hiến pháp năm 2013 và Luật Báo chí 2016, Chính phủ Việt Nam thống nhất quản lý nhà nước về báo chí; Bộ Thông tin và Truyền thông chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về báo chí; Các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm thực hiện quản lý nhà nước về báo chí theo quy định của Chính phủ. Chính phủ quy định cụ thể trách nhiệm của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ trong việc phối hợp với Bộ Thông tin và Truyền thông để thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về báo chí; UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương thực hiện quản lý nhà nước về báo chí ở địa phương theo phân cấp, chứ không có chuyện “…một cổ “ba bốn tròng”…” như cách nói của BBC NEWS tiếng Việt. Mục đích của hoạt động quản lý nhà nước đối với báo chí là điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, thỏa mãn nhu cầu thông tin của người dân, bảo đảm quyền tự do báo chí. Công tác lãnh đạo, quản lý, kiểm duyệt báo chí ở Việt Nam không làm ảnh hưởng đến tự do báo chí mà là điều kiện căn bản để báo chí chân chính tự do sáng tạo, cống hiến nhiều nhất cho xã hội, thỏa mãn nhu cầu tự do báo chí của nhân dân.

Tự do báo chí là một trong những quyền căn bản nhất của con người, là sản phẩm chung của nhân loại. Tuy nhiên, tự do báo chí phải đặt trong khuôn khổ pháp luật. Mặt khác, báo chí còn là lĩnh vực đặc thù, có sự ảnh hưởng nhất định đến an ninh chính trị của quốc gia…Do đó, trên thế giới không một quốc gia nào có tự do báo chí vô hạn độ, vô chính phủ. Việc quản lý, kiểm duyệt báo chí đều được coi là cần thiết, nhưng cách quản lý, kiểm duyệt báo chí như thế nào, đến mức độ nào…là tùy thuộc vào từng quốc gia. Một thực tế là ngay cả ở Mỹ cũng như các nước phương Tây – nơi vẫn được xem là “thế giới tự do”, cũng không có chuyện báo chí được “thả nổi” không bị quản lý, kiểm duyệt.

Chúng ta chẳng lạ gì “tự do báo chí” đã và đang trở thành chiêu bài để các thế lực thù địch, phản động lợi dụng chống phá những nước không cùng quỹ đạo, trong đó có Việt Nam. BBC NEWS tiếng Việt – một trang lâu nay luôn thiếu thiện chí, trở thành công cụ chuyên phục vụ cho những cây bút chống cộng cực đoan tuyên truyền xuyên tạc chống phá Việt Nam. Dù giật tít thế nào, thể hiện dưới hình thức gì thì trang BBC NEWS tiếng Việt cũng không thay đổi bản chất, dã tâm chuyên đi chọc ngoáy, chống phá Việt Nam. Cái mà BBC NEWS tiếng Việt gọi là “tuyến bài” nêu trên thực chất là trò “té nước theo mưa” phụ họa cho những thông tin thất thiệt, chưa được kiểm chứng về tự do báo chí ở Việt Nam của RSF.

Share this:

 

Thứ Bảy, 22 tháng 7, 2023

Sửa Nghị định quản lý mạng Internet là “leo thang kiểm duyệt đối với môi trường mạng” ?

 


Lợi dụng trong dự thảo nghị định thay thế cho Nghị định số 72 năm 2013 và Nghị định 27 năm 2018 về quản lý, cung cấp, sử dụng dịch vụ Internet và thông tin trên mạng, Bộ Thông tin và Truyền thông đề xuất biện pháp ngừng cung cấp dịch vụ Internet, nhằm xử lý nhanh vi phạm trên môi trường mạng. VOA lập tức giật tít “Việt Nam sẽ cắt Internet những ai chống đối trên mạng?” VOA tiếng Việt cho rằng đây là “một sự leo thang kiểm duyệt đối với môi trường mạng vốn đã hà khắc ở quốc gia này”. Cách tiếp cận vấn đề của VOA tiếng Việt là hoàn toàn không phù hợp, thiếu khách quan, xuyên tạc đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam về quyền tự do nói chung, tự do Internet nói riêng; bôi nhọ hình ảnh, hạ thấp uy tín của Việt Nam.

Tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm xây dựng, hoàn thiện thể chế, tạo hành lang pháp lý và tạo điều kiện thuận lợi nhất để người dân có thể sử dụng Intetnet, mạng xã hội, tự do chia sẻ thông tin, bày tỏ cảm xúc, quan điểm cá nhân trên không gian mạng trong khuôn khổ pháp luật và phù hợp với truyền thống văn hóa, chuẩn mực đạo đức xã hội.

Tính đến đầu năm 2023, Việt Nam có 77,93 triệu người dùng Internet, chiếm 79,1% tổng dân số. Số lượng người dùng mạng xã hội cũng đạt con số hơn 70 triệu, tương đương với 71% tổng dân số. Trung bình người dùng Việt Nam sử dụng 7 tiếng/ngày để tham gia các hoạt động liên quan đến Internet, số người lướt web hơn 9 tiếng mỗi ngày chiếm 22%.. Tỷ lệ người dùng Internet hàng ngày tại Việt Nam lên tới 94%… Việt Nam là quốc gia có lượng người dùng Internet cao thứ 12 trên toàn thế giới và đứng thứ 6 trong tổng số 35 quốc gia và vùng lãnh thổ tại châu Á. Việt Nam nằm trong top 10 quốc gia có lượng người dùng mạng xã hội nhiều nhất thế giới, đặc biệt là Facebook với 66,2 triệu người… Những dữ liệu trên cho thấy Việt Nam đã đạt được những thành tựu vượt bậc về tốc độ phát triển công nghệ thông tin, nằm trong nhóm dẫn đầu thế giới về tỷ lệ số người dân sử dụng mạng internet và mạng xã hội.

Cũng như nhiều quốc gia trên thế giới, Việt Nam nghiêm cấm những hành vi lợi dụng Internet để gây ảnh hưởng đến an ninh quốc gia, vi phạm đạo đức, truyền thống văn hóa, thuần phong mỹ tục của dân tộc. Các tin, bài, video, clip… bị Việt Nam can thiệp bóc gỡ thời gian qua đều là các tin, bài chứa đựng những thông tin xấu độc, vi phạm pháp luật. Những người bị các cơ quan chức năng của Việt Nam áp dụng các hình thức xử phạt là do họ đã lợi dụng tự do ngôn luận, tự do báo chí, tự do Internet để tuyên truyền, xuyên tạc, kích động chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam…

Việc Việt Nam áp dụng các biện xử lý nhanh vi phạm trên môi trường mạng là hoàn toàn phù hợp, cần thiết nhằm tôn trọng và bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức trên Internet. VOA tiếng Việt cho rằng đó là “một sự leo thang kiểm duyệt” ở một môi trường mạng “hà khắc” là luận điệu bóp méo, xuyên tạc sự thật. Ở đây có một nghịch lý là, trong khi VOA tiếng Việt cứ rêu rao rằng Việt Nam không có tự do, trong đó có tự do Internet thì ngược lại các đánh giá của Liên Hợp Quốc – tổ chức liên chính phủ có nhiệm vụ duy trì hòa bình và an ninh quốc tế, thúc đẩy quan hệ hữu nghị giữa các quốc gia, thực hiện sự hợp tác quốc tế, làm trung tâm điều hòa các nỗ lực quốc tế và các mục tiêu chung lại luôn coi Việt Nam như một điểm sáng về thúc đẩy và phát triển quyền con người, trong đó có quyền tự do Internet. Nghịch lý này đã chứng tỏ lối nhìn nhận, đánh giá vô căn cứ, thiếu khách quan, nhằm dụng ý xấu của VOA tiếng Việt.

Sự phát triển và tự do Internet tại Việt Nam là thực tế không thể phủ nhận. Những thành quả mà Việt Nam đã đạt được trong bảo đảm quyền con người nói chung, tự do Internet nói riêng thời gian qua là minh chứng hùng hồn bác bỏ mọi luận điệu bóp méo, xuyên tạc của VOA tiếng Việt. Bức tranh sinh động về tự do Internet ở Việt Nam Việt Nam không chỉ đại đa số người dân Việt Nam thừa nhận, mà cả những người nước ngoài đang sinh sống, làm việc và học tập tại Việt Nam cũng cảm nhận, thấy rõ điều đó. Lối viết bài, đưa tin không tìm hiểu thực tế mà chỉ dựa vào những thông tin vụn vặt, cóp nhặt trên mạng hoặc thông qua những kẻ cơ hội, bất mãn chính trị theo kiểu “nghe hơi nồi chõ” của VOA tiếng Việt là không thể chấp nhận được.

 

HRW đòi trả tự do cho Đặng Đăng Phước: hãnh động lố mãng!

 


HRW vừa vu cáo: “Chính quyền Việt Nam vận dụng các điều luật có nội dung điều chỉnh quá rộng và mang tính đàn áp để truy tố những người lên tiếng kêu gọi cải cách”, đồng thời yêu cầu: “Nhà cầm quyền Việt Nam nên hủy bỏ ngay lập tức mọi cáo buộc đối với Đặng Đăng Phước và các nhà hoạt động khác – những người đóng vai trò thiết yếu trong việc tầm soát những sai phạm và tham nhũng mà chính quyền Việt Nam tuyên bố muốn phòng, chống” và “ngay lập tức phóng thích nhà vận động chống tham nhũng Đặng Đăng Phước”!?

Cần nói ngay rằng HRW đang bảo vệ, cổ vũ cho kẻ vi phạm pháp luật một cách phi lý và đây không phải là lần đầu. Đúng vậy!

Như đã biết, Đặng Đăng Phước, sinh năm 1963, cư trú tại Tổ 7A, phường Tân Lợi, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk là một kẻ vi phạm pháp luật bị cơ quan bảo vệ pháp luật bắt giữ, điều tra và ngày 6/6/2023, Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên phạt y 08 năm tù giam về tội “Làm, tàng trữ, phát tán hoặc tuyên truyền thông tin, tài liệu, vật phẩm nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” theo Điều 117, Bộ luật Hình sự (năm 2015). Thực tế cho thấy, từ năm 2012, Đặng Đăng Phước đã sử dụng mạng internet để tham gia vào các hoạt động xuyên tạc tình hình thực thi dân chủ, quyền con người, nhằm chống đối Nhà nước, gây mất an ninh trật tự, an toàn xã hội ở Việt Nam do một số đối tượng cơ hội, phản động trong và ngoài nước phát động. Theo đó, y đã đăng tải, chia sẻ hơn 200 bài viết xuyên tạc, công kích lãnh đạo cấp cao và chính quyền, bôi đen tình hình chính trị – xã hội Việt Nam. Y công khai tư tưởng, quan điểm bất mãn, cơ hội, lợi dụng các vấn đề đang được xã hội quan tâm để nói xấu lực lượng bảo vệ pháp luật, xuyên tạc tình hình đất nước. Không chỉ tham gia các hội, nhóm, diễn đàn phi pháp trên mạng xã hội, y còn  thường xuyên lôi kéo những đối tượng bất mãn, chống đối trên địa bàn đến các phiên tòa xét xử đối tượng vi phạm pháp luật để xuyên tạc chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước, phỉ báng chính quyền nhân dân; cản trở hoạt động của cơ quan chức năng, kích động, gây rối an ninh trật tự. Hành vi nêu trên của Đặng Đăng Phước diễn ra trong một thời gian dài, ngày càng trắng trợn. Mặc dù đã được các cơ quan chức năng nhiều lần nhắc nhở, vận động, giải thích nhưng Phước vẫn chứng nào tật ấy, có hành vi vi phạm pháp luật ngày càng tinh vi, trắng trợn, thách thức sự nghiêm minh của pháp luật. Vì vậy, căn cứ vào những hành vi vi phạm pháp luật, y đã bị pháp luật trừng trị như bản án nêu trên.  Bản án của Đặng Đăng Phước do Hội đồng xét xử Toà án nhân dân tỉnh Đắk Lắk tuyên là đúng người, đúng tội, thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của Nhà nước và nhân dân Việt Nam.

HRW nên nhớ rằng, cũng như mọi quốc gia trên thế giới, Việt Nam là một đất nước được quản lý, điều hành bằng Hiến pháp và pháp luật. Mọi tổ chức, cá nhân đang hoạt động, sinh sống tại Viêt Việt Nam đều phải tuân thủ Hiến pháp và pháp luật Việt Nam. Quyền con người, quyền công dân là những quyền cơ bản ở Việt Nam đều được ghi nhận và thể hiện trong Hiến pháp, pháp luật. Những hành vi lợi dụng nhân quyền để xâm phạm an ninh quốc gia, dân tộc, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân đều bị trừng trị đích đáng và Đặng Đăng Phước cũng vậy. Việc HRW, cố tình bảo vệ Đặng Đăng Phước là nhằm cổ vũ cho những kẻ vi phạm pháp luật, cổ súy cho hành động chống đối Nhà nước Việt Nam.

Hành động phi lý của HRW là đi ngược lại quyền và lợi ích của Nhà nước và nhân dân Việt Nam, cần phải lên án, bác bỏ./.

 

Thứ Năm, 20 tháng 7, 2023

Lợi dụng bước tiến trong quan hệ Việt Nam – Vatican để xuyên tạc tự do tôn giáo

 


Trước thông tin tốt lành trong quan hệ giữa Việt Nam và Vatican liên quan chuyến thăm Vatincan của Chủ tịch nước, thì những người xấu, chuyên săm soi, “bới lông tìm vết” lại xem đó là cớ để lu loa rằng, “một nguyện vọng chính đáng của giáo dân Việt Nam đã bị chặn lại suốt 10 năm”; rằng, “rất có thể tiếp tục bị cộng sản ngăn cản khi tiến tới quan hệ ngoại giao toàn diện”(!)

Các ngài thường vỗ ngực là “thạo tin” và đưa tin “khách quan, trung thực”, nhưng đã cố tình lờ đi những thông tin tích cực. Đây, UCA (hãng tin công giáo chuyên về châu Á) khẳng định: “Hiến pháp của Việt Nam cho phép tự do tôn giáo và các phương tiện truyền thông của Chính phủ đã bác bỏ chỉ trích từ các nhóm Ủy ban tự do tôn giáo quốc tế của Mỹ, từng xếp Việt Nam vào danh sách “các quốc gia cần quan tâm đặc biệt”. Trang này cho rằng, trong bối cảnh đó, việc Việt Nam cho phép Vatican đặt đại diện thường trú “là một bước tiến tích cực”, rằng “để tiến tới mối quan hệ toàn diện, có lẽ sẽ là một chặng đường dài”. Hãng tin Reuters cũng chung quan điểm đó.

Ai cũng biết, trong lịch sử quan hệ ngoại giao thông thường, các quốc gia đều có những bước đi thích hợp, phù hợp lộ trình và lợi ích của mỗi nước. Những năm qua, với chính sách đối ngoại rộng mở, đa dạng hóa, đa phương hóa các mối quan hệ quốc tế, và với phương châm “gác lại quá khứ, xóa bỏ hận thù, hướng tới tương lai”, Việt Nam đã và đang cải thiện nhiều mối quan hệ, ngay cả với nước từng là cựu thù theo lộ trình từ thấp lên cao, từ hẹp đến rộng nhằm đáp ứng lợi ích của cả hai phía. Theo hướng đó, trong quan hệ với một số cường quốc, có nước đi từ quan hệ hợp tác nhiều mặt đến hợp tác toàn diện; có nước là “đối tác hợp tác toàn diện” đến “đối tác chiến lược” hoặc “chiến lược toàn diện”… Điều đó phụ thuộc tình hình cụ thể, nhất là thái độ của những người lãnh đạo đứng đầu quốc gia đó. Từ thực tế ấy, các ngài thấy rõ lý do vì sao từ chỗ cho phép Vatican “đặt đại diện thường trú” đến việc “thiết lập quan hệ ngoại giao toàn diện”, là một quá trình, cần có thời gian và trải qua thực tiễn cụ thể. Do đó, cần nhấn mạnh rằng, bước đầu tiên trong quá trình này, những người có lương tri đều thấy hợp lý và hoan nghênh!

Thiết nghĩ, nên dẫn ra đây một quá trình dài với những cố gắng cụ thể của Việt Nam trong việc cải thiện quan hệ với Vatican: đầu năm 2007, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm Vatican, hội kiến Giáo hoàng Biển Đức XVI và thủ tướng Vatican, Hồng y Tarcisio Bertone. Tháng 2/2009, phái đoàn của Tòa thánh do Thứ trưởng ngoại giao – Đức ông Pietro Parolin dẫn đầu – thăm Việt Nam và làm việc tại Hà Nội, cả hai bên quyết định thành lập “Nhóm công tác hỗn hợp Việt Nam – Vatican” để thảo luận vấn đề về quan hệ ngoại giao. Ngày 11/12/2009, nhân chuyến thăm Italia, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã có cuộc hội kiến với Giáo hoàng Biển Đức XVI và Hồng y Tarcisio Bertone. Ngày 22/11/2013, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với chuyến công du tại Ý, đã có cuộc hội kiến với Giáo hoàng Biển Đức XVI, v.v… Các ngài nghĩ gì khi giới quan sát quốc tế cho rằng “đây là điều ít xảy ra, vì Giáo hoàng thông thường chỉ tiếp các nguyên thủ quốc gia, các thủ tướng, hoặc các nhà lãnh đạo chính trị tiếng tăm thế giới, ít khi tiếp một lãnh đạo chính đảng”. Vậy các ngài giải thích thế nào về thái độ Đảng, Nhà nước Việt Nam thường xuyên quan tâm chính sách tự do tín ngưỡng, luôn tạo điều kiện cho các tôn giáo, trong đó có Công giáo hoạt động với mục đích “tốt đạo, đẹp đời”? Nếu không nhất quán chính sách ấy, chắc chắn Tổng Bí thư và Thủ tướng Việt Nam lại hội kiến với Vatican để bàn việc thiết lập quan hệ ngoại giao! Đây là kết quả sự bền bỉ thể hiện thiện chí của phía Việt Nam.

Cần nói thêm rằng, ngay khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa (nay là nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam) ra đời, chỉ sau một ngày, ngày 3/9/1945, Chủ tịch Chính phủ lâm thời Hồ Chí Minh đã họp Chính phủ để bàn thảo và thông qua 6 nhiệm vụ cấp bách, trong đó có nhiệm vụ: “Thực hành tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết”. Giám mục Lê Hữu Từ được Bác Hồ mời làm Cố vấn Chính phủ; và thể hiện sự tôn trọng cương vị đó, Bác Hồ thường xuyên gửi thư trao đổi ý kiến với Giám mục Lê Hữu Từ về tình hình kháng chiến cứu quốc. Xin trích ra đây toàn văn lá thư của Chủ tịch Hồ Chí Minh gửi Giám mục Lê Hữu Từ ngày 23/1/1947:

“Thưa cụ,

Đã lâu không được gặp cụ, tôi nhớ lắm.

Từ ngày thực dân Pháp bội ước khai hấn, toàn thể đồng bào ta phải đồng tâm nhất trí, kháng chiến cứu quốc. Lần này cũng như những lần trước 6-3 và 14-9, tôi chắc cụ đã lấy địa vị công và tư, là Cố vấn của Chính phủ và là bạn thân của tôi, mà giải thích và kêu gọi đồng bào hǎng hái tham gia kháng chiến cứu quốc.

Vì công việc còn bận, tôi chưa có thể gặp cụ để trực tiếp cảm ơn cụ, tôi xin phái người thân tín là ông Huỳnh thay mặt tôi đến hỏi thǎm và chúc cụ mạnh khoẻ.

Nhờ cụ cầu Đức Chúa ban phúc cho Tổ quốc và xin cụ nhận lời chào thân ái của tôi.

Ngày 23 tháng 1 nǎm 1947
HỒ CHÍ MINH”

Người viết bài này còn nhớ lời tâm sự của Bác Hồ với đại ý rằng, Đức Phật cũng như chúa Giêsu đều có chung mong ước là con người được sống trong sung sướng và hạnh phúc. Hồ Chí Minh và toàn dân Việt Nam, từ người theo đạo cũng như không theo đạo nào, đã và đang đồng lòng đánh đuổi thực dân Pháp và đến quốc Mỹ xâm lược cũng vì mục tiêu cao cả ấy. Bởi vậy, xin được nhắc những ai đó, nếu cứ khăng khăng đi ngược lại lợi ích to lớn ấy, chuyên suy diễn, xuyên tạc bản chất sự việc, nhất là dùng tôn giáo để chống phá Đảng, Nhà nước và khối đại đoàn kết toàn dân tộc, chắc chắn sẽ thất bại ê chề!

 

Thứ Tư, 19 tháng 7, 2023

HRW mượn danh “theo dõi nhân quyền” để chống phá Việt Nam

 


Lâu nay, tổ chức Theo dõi Nhân quyền đã nhiều lần đưa ra những thông tin sai trái, bịa đặt nhằm phủ nhận thành quả, bôi nhọ bức tranh dân chủ, nhân quyền ở Việt Nam. Các luận điệu vu cáo của HRW gia tăng, ngày càng tùy tiện, không chỉ thể hiện qua phát ngôn của đại diện tổ chức này mà còn thể hiện qua các báo cáo, thông cáo báo chí. Gần đây, Bureau CTM Media – Âu Châu thực hiện một bài viết “EU: Hãy tạo áp lực để Việt Nam chấm dứt vi phạm nhân quyền” đăng tải trên các tang mạng xã hội. Theo đó, trong một thông cáo phát đi ngày 08/6/2023 (một ngày trước cuộc đối thoại nhân quyền Liên hiệp châu Âu – Việt Nam tại Hà Nội), HRW đã vu cáo rồi lấy cớ kêu gọi châu Âu gây áp lực để buộc Việt Nam chấm dứt các hành động “vi phạm nhân quyền một cách có hệ thống”. Trước đó, ngày 26/5/2023, HRW đã gửi đến Liên hiệp châu Âu một “tờ trình” về tình trạng nhân quyền tại Việt Nam, “yêu cầu EU gây sức ép để chính quyền Hà Nội trả tự do ngay lập tức cho những người đang bị giam giữ vì lý do chính trị”. Tổ chức này còn lên tiếng đòi sửa đổi hoặc hủy bỏ một số điều khoản trong Bộ luật Hình sự mà họ cho rằng “thường được viện dẫn để đàn áp các quyền dân sự và chính trị, hạn chế quyền tự do đi lại đối với các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ”!

Đặc biệt, HRW cho rằng: “Việt Nam cũng cần chấm dứt đè nén quyền tự do đi lại. Các nhà hoạt động nhân quyền và dân chủ thường xuyên phải đối mặt với nguy cơ bị cấm rời khỏi nhà hoặc khu vực cư trú, bị nhân viên hay côn đồ liên quan tới chính quyền đe dọa hoặc hành hung, và bị cản trở xuất cảnh. Tháng Năm, công an cảng hàng không quốc tế Nội Bài ở Hà Nội ngăn cấm nhà bảo vệ nhân quyền nổi tiếng Nguyễn Quang A không được xuất cảnh đi Châu Âu”.

Để thấy rõ chiêu bài lợi dụng nhân quyền để can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam; tung hô, bênh vực cho những kẻ khoác áo dân chủ nhân quyền chống phá Nhà nước Việt Nam, cần nói rõ vì sao Nguyễn Quang A bị tạm hoãn xuất nhập cảnh? Ngày 01/5/2023 vừa qua, Nguyễn Quang A đã bị tạm hoãn xuất cảnh sang Thái Lan tại sân bay Nội Bài (Hà Nội) với lý do liên quan đến an ninh, theo quy định tại khoản 9, Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019. Thông tin này cũng đã được nhiều báo đài thiếu thiện chí, các đối tượng chống phá đăng tải những ngày qua. Với quá trình hoạt động trong thời gian qua, việc Nguyễn Quang A bị tạm hoãn xuất cảnh vì lý do liên quan đến an ninh là điều đã được dự báo từ trước và ngay cả Nguyễn Quang A cũng có thể hiểu rõ được điều này khi mà các “đồng nghiệp” của y thì người đã được vào trại, người thì cũng rơi vào hoàn cảnh tương tự Nguyễn Quang A khi không thể xuất cảnh sang nước ngoài để thực hiện mục đích cá nhân của mình. Vậy lý do tại sao Nguyễn Quang A lại có ý định xuất cảnh sang Thái Lan?

Dù thông tin này chưa được chính Nguyễn Quang A cũng như các báo đài, cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí đăng tải nhưng chắc chắn rằng, bên cạnh việc lấy lý do để đi du lịch thì có lẽ y đang có ý định tham gia các diễn đàn do các cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí chống phá bên ngoài tiến hành như “Việt Tân”, “Hội Anh em dân chủ”, Hoàng Tứ Duy, Nguyễn Văn Đài… Trước đây, Nguyễn Quang A cũng là người đã từng được nhiều cá nhân, tổ chức thiếu thiện chí bên ngoài tham gia các sự kiện chống Cộng từ bên ngoài, đặc biệt là liên quan đến vấn đề “xã hội dân sự” hay truyền bá về “dân chủ, nhân quyền” của các nước phương Tây. Mặc dù trong thời gian qua, sau khi lực lượng chức năng bắt, xử lý nghiêm minh với các “đồng nghiệp” dân chủ như Nguyễn Lân Thắng, Phạm Đoan Trang, Nguyễn Tường Thuỵ, Nguyễn Thuý Hạnh, Phạm Chí Dũng, Lê Dũng Vova, Cấn Thị Thêu, Trương Văn Dũng, Bùi Tuấn Lâm, Mai Phan Lợi, Đặng Đình Bách… thì Nguyễn Quang A không có nhiều bài viết tuyên truyền xuyên tạc, chống phá trên các trang mạng xã hội như trước đây. Vậy nhưng với bản chất của một kẻ đã, đang “cuồng” phương Tây, cổ vũ cho các hoạt động chống đối cho các đối tượng đội lốt “dân chủ” thì việc Nguyễn Quang A bị tạm hoãn xuất cảnh là điều dĩ nhiên. Chưa kể Thái Lan cũng là nơi tập trung của không ít cá nhân, tổ chức phản động lưu vong, các trại tỵ nạn từ bên ngoài nên mục đích Nguyễn Quang A chọn điểm đến để xuất cảnh là Thái Lan cũng là một “ẩn số”. Quy luật nhân quả thôi, có trách thì Nguyễn Quang A nên tự trách bản thân mình, trách cho sự tha hoá, biến chất, “trở cờ”, sự quay lưng lại với quê hương, đất nước và giờ đây muốn xuất cảnh cũng không thể làm được. Tốt nhất muốn an phận thì Nguyễn Quang A nên tuân thủ các quy định của pháp luật, hãy là công dân tốt, còn nếu không thì không chỉ dừng lại ở việc “tạm hoãn xuất cảnh” đâu.

Cần khẳng định rằng, ở bất kỳ quốc gia nào, quyền của mỗi công dân phải gắn liền với trách nhiệm, nghĩa vụ với đất nước, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật. Tại Việt Nam cũng vậy, ai vi phạm pháp luật phải bị xử lý theo quy định pháp luật. Hoàn toàn không có việc Việt Nam vi phạm nhân quyền thông qua các hoạt động tố tụng như khởi tố, bắt giữ, điều tra, truy tố, luận tội, xét xử trước tòa án. Ở Việt Nam không có việc gọi những đối tượng vi phạm pháp luật là những nhà “bất đồng chính kiến” hay “tù nhân lương tâm”, “tù nhân chính trị” như những luận điệu mà các tổ chức chống phá đưa ra. “Báo cáo nhân quyền” mà các tổ chức lấy danh về nhân quyền đưa ra hằng năm nhằm cáo buộc tình hình vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là dựa trên những thông tin thu thập theo kiểu cóp nhặt, phiến diện, xuyên tạc. Do đó, những luận điệu của HRW hay các cá nhân, tổ chức thù địch, thiếu thiện chí lấy cớ nhân quyền để quy chụp, chống phá Việt Nam chỉ là những luận điệu lạc lõng, không thể chấp nhận.

 

Thứ Ba, 18 tháng 7, 2023

Núp bóng bảo vệ “tự do ngôn luận” để khóc mướn cho kẻ phạm tội

 


Ngày 6/6/2023, Tòa án tỉnh Đăk Lăk tuyên phạt bị cáo Đặng Đăng Phước 8 năm tù về tội “Làm, tàng trữ, phát tán, tuyên truyền thông tin, tài liệu nhằm chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Liền sau đó, RFA lên sóng đưa tin, dẫn lời của vợ bị cáo, luật sư, cùng với một nhân vật được cho là “đại diện quốc tế” về cái gọi là quyền con người ở khu vực châu Á (hiện sống tại Mỹ). Những ý kiến trên đòi “kháng cáo”, đòi “lên án” nhà nước Việt Nam “đàn áp quyền con người”, bênh vực, ngợi ca “thầy giáo Phước có tinh thần đấu tranh vì tự do, dân chủ, vì quyền con người”. Đáng lưu ý là ý kiến của nhân vật thuộc tổ chức “bảo vệ quyền con người” có nội dung xuyên tạc cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng ở Việt Nam, trực tiếp là nhắm vào vai trò của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng. Rồi RFA còn đưa hình ảnh Đặng Đăng Phước vừa đàn vừa hát bài “Gánh xiếc to trên quê hương nhỏ”, kèm theo lời bình có tư tưởng chống cộng. Cùng a dua với RFA là một số trang mạng xã hội mang tính bồi mép, giật các trang tít sặc mùi chống chế độ chính trị ở Việt Nam. Chẳng hạn: BBCnew tiếng Việt qui chụp “Ủng hộ dân chủ, đa đảng, thầy giáo dạy nhạc Đặng Đăng Phước bị phạt 8 năm tù”; VOA tiếng Việt chĩa mũi dùi “Việt Nam tuyên phạt thầy giáo chống tham nhũng Đặng Đăng Phước 8 năm tù”; NgươiViet lại buông lời khóc mướn “Thầy giáo chống độc tài Đặng Đăng Phước bị 8 năm tù”…; đấy là bản “hòa ca nhảm nhí” của bầy nhặng xanh trên bãi rác chính trị, cũng là thói xấu mà xưa nay các trang mạng xã hội đen luôn gào lên sau mỗi vụ việc liên quan tới pháp luật xử lý những kẻ nhân danh “đấu tranh vì dân chủ, nhân quyền” để hoạt động chống phá nhà nước Việt Nam.

Về bài hát “gánh xiếc to trên quê hương nhỏ”, là do Tuấn Khanh soạn ra, đây là một gã lưu manh chính trị mượn âm nhạc để tuyên truyền chống cộng từ lâu. Bài này lời không nhiều, không trực diện có ngôn từ hô hào chống cộng điên cuồng, song lại chứa chất hàm ý bêu riếu chế độ chính trị ở Việt Nam. Có thể nêu một vài ẩn ý thâm sâu của bài hát trên, như: “Gánh xiếc to trên quê hương cháy đỏ” là lời đay nghiến hận thù chế độ; “Tự do đâu chỉ có cơm no” là hàm ý cần phải “vùng lên đòi quyền con người, chứ không thỏa mãn với cơm no áo ấm”; “sao lại mang trò hề chặn lối về, gieo rắc u mê” đây là sự xuyên tạc về công tác tuyên truyền của Đảng. Trong các video do Tuấn Khanh dàn dựng còn cắt dán những hình ảnh thê lương, những trẻ em, bà già vạ vật đầu hè xó chợ, phố xá, thôn quê điêu tàn. Nhạc nền của bài hát này chẳng khác nào đám hiếu. Chưa kể vần điệu của bài hát này phảng phất sự não nề, ê chề, biến tiếng vỗ tay, tiếng cười thành tiếng khóc kêu than, xỏ xiên biến các phong trào yêu nước thành sự giả dối, nham hiểm hơn là vu cáo đảng, nhà nước làm tiêu vong giấc mộng tương lai dân tộc. Nếu đem so sánh bài này với những bài hát tiền chiến thì âm hưởng não nề chẳng thấm vào đâu, nhưng so với những bài trong nhân văn giai phẩm thì có điều gì đó tương đồng, coi sự cầm quyền của Đảng Cộng sản Việt Nam như là “một thảm họa”, coi chế độ XHCN như “trò hề chính trị”. Chứng tỏ, tư tưởng chống cộng không chỉ được cài cắm trong các bài diễn thuyết chính trị mà còn được lẩn khuất, len lỏi trong văn học, âm nhạc, hội họa, phim ảnh, sân khấu, trở thành một mặt trận không tiếng súng, nhưng hiểm họa “diễn biến hòa bình” lại rất thâm sâu. Đất nước Việt Nam đã thống nhất gần nửa thế kỷ, thế nhưng, những luồng tư tưởng chống cộng, chia rẽ dân tộc vẫn chưa phải là đã hết, ngược lại còn có lúc, có kẻ mang dòng máu chống cộng lợi dụng chủ trương hòa hợp dân tộc để ngóc đầu dậy theo đóm ăn tàn chống phá chế độ. Tâm hồn chống cộng bị nhuốm đen thông qua các sản phẩm văn hóa độc hại từ trước ngày 30/4/1975 vẫn cố thoi thóp, thậm chí tham vọng “lật lại lịch sử”. Cho dù đất nước có nhiều đổi thay kể từ ngày có Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhưng những luồng tư tưởng chống cộng vẫn coi đó là “sự chết chóc đối với tự do, dân chủ, nhân quyền”. Đồng bào ta đã từng bị nhiều kẻ thù ngoại xâm đem bánh vẽ chính trị ra để dụ dỗ, nào là “khai hóa văn minh”, nào là “đồng chủng, đồng văn”, nào là “bảo vệ thế giới tự do”…, nhưng rốt cuộc những trò lừa phỉnh ấy đâu có bịt được đường đi của lịch sử dân tộc. Đồng bào Việt Nam yêu nước đã tự mình đem máu xương giành lấy độc lập, tự do, đâu phải trông đợi ai ban ơn. “Gánh xiếc to trên quê hương nhỏ” mà Đặng Đăng Phước tự tay đánh đàn và hát là muốn bắn phá vào chế độ chính trị ở Việt Nam. Đây không còn là sai lầm do nhận thức nông cạn của đứa trẻ mới lớn, mà là sai lầm do sự nung nấu tư tưởng chống cộng. Đặng Nguyên Phước sinh ra vào thời điểm lịch sử mà ở miền Nam đang nổ ra phong trào phá ấp chiến lược của Mỹ – Ngụy, đi đầu là đồng bào Ấp Bắc. Bấy giờ, Mỹ – Ngụy muốn dùng dây thép gai với họng súng để chia tách lòng dân với cách mạng. Nhưng, tinh thần, khí phách phá cường quyền của đồng bào miền Nam đã chiến thắng. Đặng Đăng Phước khi lớn lên, ắt là có những trải nghiệm lịch sử, ít nhiều cảm nhận được sự hy sinh, mất mát của đồng bào yêu nước. Nhưng có lẽ điều mà Phước không nhận thức được, đó là hạnh phúc của người dân được sinh ra trong một dân tộc giàu lòng yêu nước, khát vọng tự chủ, không cam chịu ách đô hộ của kẻ ngoại xâm. Mô hình dân chủ tư bản phương Tây không bao giờ là chiếc áo nhiệm màu cho nền dân chủ của Việt Nam. Phong trào yêu nước mà Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi xướng cách nay 75 năm là một sáng tạo lịch sử, từ bấy đến nay có biết bao tấm gương yêu nước sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Đã từng có biết bao văn nghệ sĩ lấy cảm hứng lịch sử trong thời đại dân tộc Việt Nam đấu tranh cho chân lý vĩnh hằng “Không có gì quí hơn độc lập, tự do” để sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật giàu chất sử thi. Có thể nêu ví dụ trường hợp điển hình là Trịnh Công Sơn, người nhạc sĩ này vốn sinh ra và trưởng thành trong môi trường đất nước sục sôi máu lửa chiến tranh, ông không đi theo cộng sản, cũng không đi theo phía bên kia chiến tuyến cộng sản, nhưng ông vẫn có được  kho báu âm nhạc giàu tính nhân văn, chính ông là người đã lên sóng đài phát thanh và hát lên ca khúc “Nối vòng tay lớn” ngay trong buổi trưa ngày 30/4/1975. Lẽ ra, một thầy giáo dạy âm nhạc như Phước phải tìm cảm hứng trong chất sử thi âm nhạc cách mạng và cảm hứng từ thực tế đời sống xã hội gần 40 năm đổi mới, từ đó gửi gắm cho thế hệ trẻ một luồng sinh khí mới, tươi tắn, đằm thắm, hào khí, khơi gợi khát vọng dựng xây, bảo vệ quê hương, đất nước. Tất nhiên, không ai ngăn cấm hoặc bưng bít những bài hát có lời ca, âm hưởng phản ánh một góc phiền muộn thế thời, bởi vì thế gian này luôn tồn tại 2 mảng trắng đen, quá trình đi lên của lịch sử là đẩy lùi thế lực hắc ám, tạo lập xã hội văn minh. Về phương diện này, các tác phẩm của Lưu Quang Vũ vẫn sống động trong lòng người đương đại. Chưa kể, dòng nhạc tiền chiến từng một thời bị cấm đoán, nay đã được tái xuất trong đời sống âm nhạc tại Việt Nam. Vậy ai bảo là Việt Nam chỉ có “nhà tù và nghĩa địa” đối với “tự do, dân chủ”.

Buồn thay cho Đặng Đăng Phước, rồi đây còn nhiều tổ chức phi chính phủ núp bóng “bảo vệ tự do ngôn luận” lên tiếng bênh vực cho Phước. Phước cũng sẽ có kháng án (như lời của vợ Phước nói), nhưng dù sao bản án mà Tòa tuyên phạt đối với Phước không đơn thuần là tiếng nói pháp lý mà quan trọng là tiếng chuông cảnh tỉnh nhân tâm. Trong nhà giam, Phước sẽ có thời gian mà chất vấn lương tâm đối với đất nước, đối với quê hương. Nếu biết ăn năn hối cải, không ôm đàn ca lời chống cộng thì sẽ được hưởng sự khoan hồng của nhà nước. Chớ có nghe hoặc liên thủ với bọn buôn mép chính trị ở ngoài kia. Đời sống chính trị của một đất nước có chủ quyền không phải thứ có thể đem ra giễu cợt. Xưa có nhân vật Hàn Thuyên làm văn đuổi được cá sấu. Nay có loại người dùng văn đàn để mời mọc đàn cá sấu chính trị về ăn thịt đồng bào mình. Chớ có làm thế, phải tội với lịch sử. Những kẻ như Tuấn, Phước không biết rằng bản thân mình đang tham gia vào gánh xiếc chính trị mang danh “đấu tranh vì quyền con người” mà quên đi đạo lý với quê hương, đất nước.  

 

 

đã thông qua Luật số 69/2020/QH14 Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Chính phủ ban hành 02 Nghị định: (1). Quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ 01/01/2022; (2). Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ 17/01/2022). Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định ban hànhvề Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước, có hiệu lực từ 21/02/2022. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hai thông tư: (1). Quy định về hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và (2). Quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đến nay, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã hoàn thiện và có hiệu lực thi hành để đồng bộ với việc thực hiện Luật.

Công tác thông tin tuyên truyền, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh. Năm 2022, Việt Nam ký 02 Bản Ghi nhớ: (1). Về tuyển dụng, việc làm và hồi hương lao động ký với Chính phủ Malaysia ngày 21/3/2022 và (2). Về hỗ trợ công dân Việt Nam tham gia chương trình nông nghiệp ký với Chính phủ Ôxtraylia ngày 28/3/2022.Cũng trong năm 2022, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 12 hội nghị phổ biến và tập huấn về quy định pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các doanh nghiệp dịch vụ.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật nâng cao nhận thức của người dân và của xã hội trong việc chấp hành các quy định về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông tin, hướng dẫn về di cư an toàn, đồng thời lồng ghép các nội dung liên quan đến phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng người Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài.

Thông tin tuyên truyền qua các báo, đài trung ương và địa phương, qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan Bộ và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài về các chính sách của Nhà nước, của địa phương, các thông tin về tuyển người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhằm góp phần ngăn ngừa tình trạng lừa đảo, thu tiền quá quy định, việc dụ dỗ lôi kéo, tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài bất hợp pháp, v.v.

Nhà nước có quy định và giám sát tuyển dụng lao động chặt chẽ. Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện trong Luật Doanh nghiệp. Vì vậy, Điều 10 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14, ngày 13/11/2020) đã có quy định cụ thể. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý, giám sát tất cả các hoạt động của doanh nghiệp từ hoạt động chuẩn bị nguồn, đăng ký hợp đồng, tuyển chọn lao động; đào tạo, giáo dục định hướng, quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động hết hợp đồng trở về nước thanh lý hợp đồng, hỗ trợ giới thiệu việc làm cho người lao động sau khi về nước.

Cùng với đó là công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện xử lý sai phạm kịp thời. Cơ quan chức năng phối hợp với Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh đến quyền lợi người lao động, đưa người lao động khi gặp khó khăn ở nước ngoài; chỉ đạo các doanh nghiệp trong việc cử đại diện để phối hợp với đối tác quản lý và hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh đối với người lao động ở nước ngoài. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm phát hiện sai phạm xử lý kịp thời, không để tái diễn.

Như vậy, xuất khẩu lao động là hoạt động “ích nước lợi nhà” nên Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến hoạt động này bằng tổng thể nội dung, biện pháp. Từ ban hành hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát… nhằm thực hiện đúng quy định của pháp luật và phát hiện xử lý kịp thời sai phạm nếu có. Cho nên, ý kiến cho rằng, Đảng, Nhà nước ta chỉ quan tâm đến nguồn lợi do xuất khẩu lao động mà không quan tâm đến quyền lợi của người xuất khẩu lao động là xuyên tạc, vu khống với ý đồ đen tối./.

 

Thứ Hai, 17 tháng 7, 2023

Facebook đang giúp Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận ?

 


Khai thác bài viết trên Washington Post dẫn nguồn từ bốn người giấu tên từng làm việc cho hãng Meta, công ty mẹ của Facebook nói rằng Facebook đã phải nhiều lần nhượng bộ trước những yêu cầu của chính quyền Việt Nam trong việc kiểm soát những thông tin, hình ảnh đăng tải trên nền tảng MXH của họ, một số đài báo phương Tây và hải ngoại ra sức giật tít “Facebook đang giúp Việt Nam bóp nghẹt tự do ngôn luận”, “Tại sao Facebook xoay chiều, kìm hãm tự do ngôn luận ở Việt Nam?”, “Facebook đang tiếp tay cho cộng sản Việt Nam”, “Facebook thường xuyên kiểm duyệt giới bất đồng chính kiến, loại bỏ những người bị chính phủ Việt Nam coi là mối đe dọa chế độ”, “Việt Nam gây sức ép bắt Facebook kiểm duyệt bài viết chỉ trích chính quyền”… BBC tiếng Việt trích lời của một số người gọi là “nhà hoạt động nhân quyền” nói rằng họ đang rất quan ngại về sự nhượng bộ của Facebook trước những đòi hỏi của phía Việt Nam.Đay là hành động bóp méo bản chất việc Facebook tuân thủ pháp luật Việt Nam thành hành vi sai trái, đi ngược giá trị nhân quyền!

Trên thực tế, Việt Nam là thị trường lớn thứ 7 của Facebook trên toàn thế giới và là nguồn doanh thu lớn nhất của nền tảng này tại khu vực Đông Nam Á. Những yêu cầu của phía Việt Nam đối với Facebook là hoàn toàn chính đáng và hợp lý. Chẳng lẽ một doanh nghiệp nước ngoài vào làm ăn và thu lợi nhuận rất cao ở thị trường Việt Nam lại có thể để cho khách hàng của họ tự do sử dụng nền tảng MXH của họ để đăng tải những tin bài sai sự thật, coi thường luật pháp Việt Nam, thể chế chính trị của Việt Nam, nói xấu chế độ, chống phá chính quyền, xuyên tạc tình hình trong nước, kích động bạo lực, tư tưởng hận thù dân tộc, xúc phạm văn hóa Việt Nam…? Đó chắc chắn là một điều không thể chấp nhận được. Facebook không thể không hiểu điều đó.

Còn nhớ, cách đây vài năm khi xảy ra vụ chống người thi hành công vụ ở xã Đồng Tâm, huyện Mỹ Đức ngoại thành Hà Nội, một số đối tượng đã lợi dụng một số nền tảng MXH, đặc biệt là Facebook, để đưa tin sai sự thật, vu khống chính quyền, kích động người dân chống chính quyền. Bộ Thông tin và Truyền thông đã yêu cầu đại diện Facebook phải nhanh chóng xử lý, gỡ bỏ những thông tin này, nhưng Facabook đã hành động rất chậm, viện dẫn nhiều lý do kỹ thuật khác nhau. Khi đó, chính phủ Việt Nam đã tuyên bố không thể kiên nhẫn với Facebook nếu họ không tuân thủ pháp luật Việt Nam. Giờ đây có vè họ đã hành động nhanh hơn trước.   

Không chỉ ở Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng đã từng gặp những vấn đề tương tự như Việt Nam và họ đã xử lý rất mạnh tay. Ngay cả ở Mỹ cũng vậy. Năm 2020, Facebook đã từng bị một số ông lớn trong ngành công nghiệp thời trang, mỹ phẩm, giải trí ở chính nước Mỹ “đánh hội đồng” vì không kiểm soát hiệu quả các phát ngôn thù hận mang tính phân biệt chủng tộc trên nền tảng của mình. Tài sản của Facebook đã ngay lập tức “bốc hơi” 56 tỷ USD chỉ trong một thời gian ngắn.

Bởi thế, những thông tin kích động kiểu như “Facebook phục tùng chính phủ Việt Nam vì lợi nhuận”, “Facebook đã trở thành công cụ tuyên truyền cho cộng sản Việt Nam” hay “Facebook quay xe, tiếp tay kìm hãm tự do ngôn luận ở Việt Nam”… rõ ràng là nghe chẳng thể lọt tai ai. Facebook chắc chắn cũng chẳng có nhiều thời gian để quan tâm đến những giọng điệu cay cú này./.

 

Thứ Bảy, 15 tháng 7, 2023

Có phải Việt Nam không quan tâm đến quyền lợi người xuất khẩu lao động?

 


Thời gian qua, các thế lực thù địch, phản động gia tăng công kích, xuyên tạc chủ trương xuất khẩu lao động của Đảng, Nhà nước, nào là Nhà nước vô trách nhiệm, lợi dụng người dân kiếm tiền, rằng nước kém phát triển mới “buôn dân”,…

Thực tế, xuất khẩu lao động là hoạt động mua – bán hàng hóa sức lao động nội địa cho người sử dụng lao động nước ngoài. Theo đó, xuất khẩu lao động có hai nội dung: (1). Đưa người lao động đi làm việc có thời hạn ở nước ngoài; (2). Xuất khẩu lao động tại chỗ (xuất khẩu lao động nội biên): người lao động trong nước làm việc cho các doanh nghiệp FDI, các tổ chức quốc tế qua internet. Vậy là ngay cả các nước tư bản phát triển trong đó có Mỹ cũng đều có xuất khẩu lao động. Hiện nay có một số doanh nghiệp của Việt Nam đầu tư ra nước ngoài, vào cả thị trường Mỹ nên các nước tiếp nhận đầu tư của doanh nghiệp Việt Nam đồng nghĩa họ chấp nhận xuất khẩu lao động tại chỗ cho doanh nghiệp Việt Nam. Như vậy, không phải chỉ các nước kém phát triển mới thực hiện xuất khẩu lao động.

Thứ hai, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến hoạt động xuất khẩu lao động để đảm bảo quyền lợi, nghĩa vụ của người thực hiện xuất khẩu lao động. Theo đấy, Nhà nước tích cực xây dựng văn bản pháp luật và triển khai thi hành. Ngày 13/11/2020, Quốc hội khóa 14 đã thông qua Luật số 69/2020/QH14 Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Chính phủ ban hành 02 Nghị định: (1). Quy định chi tiết một số điều và hướng dẫn thi hành Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ 01/01/2022; (2). Quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực lao động, bảo hiểm xã hội, người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, có hiệu lực từ 17/01/2022). Thủ tướng Chính phủ ban hànhQuyết định ban hànhvề Quỹ Hỗ trợ việc làm ngoài nước, có hiệu lực từ 21/02/2022. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội ban hành hai thông tư: (1). Quy định về hệ thống cơ sở dữ liệu về người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng và (2). Quy định chi tiết một số điều của Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng. Đến nay, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật đã hoàn thiện và có hiệu lực thi hành để đồng bộ với việc thực hiện Luật.

Công tác thông tin tuyên truyền, hợp tác quốc tế được đẩy mạnh. Năm 2022, Việt Nam ký 02 Bản Ghi nhớ: (1). Về tuyển dụng, việc làm và hồi hương lao động ký với Chính phủ Malaysia ngày 21/3/2022 và (2). Về hỗ trợ công dân Việt Nam tham gia chương trình nông nghiệp ký với Chính phủ Ôxtraylia ngày 28/3/2022.Cũng trong năm 2022, Cục Quản lý lao động ngoài nước đã phối hợp với các đơn vị liên quan tổ chức 12 hội nghị phổ biến và tập huấn về quy định pháp luật trong lĩnh vực người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng cho các Sở Lao động – Thương binh và Xã hội và các doanh nghiệp dịch vụ.

Đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến Luật và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật nâng cao nhận thức của người dân và của xã hội trong việc chấp hành các quy định về đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài; thông tin, hướng dẫn về di cư an toàn, đồng thời lồng ghép các nội dung liên quan đến phòng ngừa, đấu tranh, ngăn chặn tình trạng người Việt Nam xuất cảnh, di cư trái phép, cư trú và lao động bất hợp pháp, vi phạm pháp luật ở nước ngoài.

Thông tin tuyên truyền qua các báo, đài trung ương và địa phương, qua cổng thông tin điện tử của các cơ quan Bộ và Sở Lao động – Thương binh và Xã hội địa phương, hệ thống Trung tâm dịch vụ việc làm và các doanh nghiệp hoạt động dịch vụ đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài về các chính sách của Nhà nước, của địa phương, các thông tin về tuyển người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng, nhằm góp phần ngăn ngừa tình trạng lừa đảo, thu tiền quá quy định, việc dụ dỗ lôi kéo, tổ chức đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài bất hợp pháp, v.v.

Nhà nước có quy định và giám sát tuyển dụng lao động chặt chẽ. Đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài là lĩnh vực kinh doanh có điều kiện trong Luật Doanh nghiệp. Vì vậy, Điều 10 Luật Người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng (Luật số 69/2020/QH14, ngày 13/11/2020) đã có quy định cụ thể. Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý, giám sát tất cả các hoạt động của doanh nghiệp từ hoạt động chuẩn bị nguồn, đăng ký hợp đồng, tuyển chọn lao động; đào tạo, giáo dục định hướng, quản lý người lao động làm việc ở nước ngoài cho đến khi người lao động hết hợp đồng trở về nước thanh lý hợp đồng, hỗ trợ giới thiệu việc làm cho người lao động sau khi về nước.

Cùng với đó là công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra được tiến hành thường xuyên nhằm phát hiện xử lý sai phạm kịp thời. Cơ quan chức năng phối hợp với Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài giải quyết các vấn đề phát sinh đến quyền lợi người lao động, đưa người lao động khi gặp khó khăn ở nước ngoài; chỉ đạo các doanh nghiệp trong việc cử đại diện để phối hợp với đối tác quản lý và hỗ trợ giải quyết các vấn đề phát sinh đối với người lao động ở nước ngoài. Công tác thanh tra, kiểm tra hoạt động đưa người lao động Việt Nam đi làm việc ở nước ngoài nhằm phát hiện sai phạm xử lý kịp thời, không để tái diễn.

Như vậy, xuất khẩu lao động là hoạt động “ích nước lợi nhà” nên Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm đến hoạt động này bằng tổng thể nội dung, biện pháp. Từ ban hành hệ thống văn bản pháp luật và hướng dẫn thi hành đến hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát… nhằm thực hiện đúng quy định của pháp luật và phát hiện xử lý kịp thời sai phạm nếu có. Cho nên, ý kiến cho rằng, Đảng, Nhà nước ta chỉ quan tâm đến nguồn lợi do xuất khẩu lao động mà không quan tâm đến quyền lợi của người xuất khẩu lao động là xuyên tạc, vu khống với ý đồ đen tối./.

Thứ Sáu, 14 tháng 7, 2023

Vì sao Việt Nam kiên trì vận động quốc tế bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu?

 


Tại Khóa họp thường kỳ lần thứ 53 của Hội đồng nhân quyền LHQ, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines một lần nữa soạn thảo, đề xuất và thành công thông qua Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người, trong đó nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và quyền con người, nhấn mạnh yêu cầu hợp tác quốc tế để khắc phục những ảnh hưởng này. Trước đó, cũng đã đồng chủ trì phiên thảo luận chuyên đề về BĐKH và quyền con người với chủ đề “Tác động tiêu cực của BĐKH đối với việc hiện thực hóa đầy đủ quyền lương thực”. Phiên thảo luận đã thu hút sự tham gia của đông đảo đại diện các quốc gia, tổ chức quốc tế như Quỹ dân số LHQ và một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Geneva.



Tại Khóa họp lần thứ 50 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trước đó, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đồng tổ chức Phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời, giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đây là Nghị quyết được Việt Nam, Bangladesh và Philippines giới thiệu hằng năm kể từ năm 2014, để Hội đồng Nhân quyền xem xét, thông qua với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng chủ đề cụ thể (như quyền trẻ em, quyền sức khỏe, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh biến đổi khí hậu).

Việt Nam không chỉ vận động chống, giảm thiểu ảnh hưởng biến đổi khí hậu trên Diễn đàn nhân quyền lớn nhất hành tinh này mà còn trên nhiều diễn đàn quốc tê quan trọng khác, chẳng hạn như Hội nghị thượng đỉnh Liên hợp quốc về phát triển bền vững, các quốc gia. Đây được xem như là một trong số giải pháp đối ngoại tích cực, chủ động của Việt Nam đối với vấn đề này. Vì sao vậy?

Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên đặc thù, Việt Nam là đất nước dễ bị tổn thương trước tác động của biến đổi khí hậu, với những biểu hiện, như: lũ lụt bất thường, hạn hán, nước biển dâng, hiện tượng thời tiết cực đoan, nhiệt độ tăng cao... Theo đánh giá hằng năm về những nước chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi các hiện tượng thời tiết cực đoan giai đoạn 1997 - 2016, Việt Nam đứng thứ 5 về Chỉ số rủi ro khí hậu toàn cầu năm 2018 và thứ 8 về Chỉ số rủi ro khí hậu dài hạn. Điều này cản trở việc thực hiện các mục tiêu phát triển bền vững của Việt Nam, nổi bật là:

Một là, ảnh hưởng đến mục tiêu chấm dứt nghèo.

Những năm gần đây, do biến đổi khí hậu, Việt Nam thường xuyên xuất hiện hiện tượng thời tiết cực đoan, như: bão, hạn hán, giông, lốc, lũ ống, lũ quét, sạt lở đất…, tàn phá nghiêm trọng cây lương thực và tài sản của người dân; đồng thời, gây khó khăn trong quá trình trồng lúa và các cây lương thực, gia tăng chi phí cho sản xuất nông nghiệp, kéo theo hệ lụy về nghèo đói gia tăng. Tổng hợp thiệt hại do thiên tai năm 2019 của cả nước cho thấy, diện tích cây lương thực bị ảnh hưởng là 40.017ha. Năm 2020, thiệt hại lên tới 209.378ha. Điều này cho thấy, thiệt hại do thiên tai năm 2020 lớn hơn nhiều so với năm 2019. Sau những đợt thiên tai, bão lũ, nhiều hộ gia đình đã rơi vào cảnh “trắng tay”, nợ nần, thiếu đói; đồng thời, tỷ lệ tái nghèo diễn ra mạnh hơn. “Hiện nay cứ 3 người thoát nghèo lại có 1 người tái nghèo, chủ yếu do hậu quả thiên tai”.

Hai là, ảnh hưởng đến nền giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho tất cả mọi người.

Biến đổi khí hậu ảnh hưởng bất lợi đến triển vọng đạt được mục tiêu giáo dục theo nhiều cách khác nhau, làm gia tăng thiên tai, dịch bệnh… ảnh hưởng đến sức khỏe, thời gian, cơ hội đến trường của trẻ. Báo cáo của UNICEF thực hiện cùng tổ chức “Fridays for Future” công bố năm 2021 cho thấy, có khoảng 1 tỷ trẻ em - gần một nửa trong số 2,2 tỷ trẻ em trên toàn thế giới - sống tại 33 quốc gia được phân loại là có “nguy cơ cực kỳ cao” bởi tác động của biến đổi khí hậu(5).

Báo cáo của Quỹ Nhi đồng Liên hợp quốc (UNICEF) ngày 20-8-2021 cho thấy, thanh, thiếu niên Việt Nam là một trong những nhóm đối tượng có nguy cơ cao nhất trước các tác động của biến đổi khí hậu. Trong phân tích này, các quốc gia được xếp hạng dựa trên nguy cơ rủi ro của trẻ em trước các cú sốc về khí hậu và môi trường, chẳng hạn như lốc xoáy và các đợt nắng nóng; cũng như mức độ dễ bị tổn thương của trẻ em trước các cú sốc, dựa trên khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu của trẻ em. Điều này đe dọa đến sức khỏe, giáo dục và sự an toàn của các em.

Tại Việt Nam, sau những trận mưa, bão, lũ, lụt, phần lớn cơ sở vật chất, các trang thiết bị giảng dạy nhiều trường, lớp bị hư hỏng, nên nhiều học sinh không thể đến trường hoặc phải học chậm hơn.

Ba là, ảnh hưởng tới mục tiêu bình đẳng giới, tăng quyền và tạo cơ hội cho phụ nữ và trẻ em gái.

Biến đổi khí hậu gây ra những tác động khác nhau đối với phụ nữ và nam giới. Các nghiên cứu cho thấy, khoảng 80% số người chịu các tác động tiêu cực của tình trạng biến đổi khí hậu là phụ nữ(7). Các nhà nghiên cứu cũng chỉ ra rằng, số phụ nữ và trẻ em tử vong bởi các thảm họa thiên nhiên cao hơn 14 lần so với nam giới. Biến đổi khí hậu tác động lên cuộc sống và sinh kế của người dân theo những cách thức khác nhau và phụ nữ luôn được coi là một trong những đối tượng dễ bị tổn thương nhất do biến đổi khí hậu. Trên thực tế, biến đổi khí hậu có thể làm tồi tệ thêm những bất bình đẳng giới, tạo thêm gánh nặng cho phụ nữ. Báo cáo thảo luận chính sách của Liên hợp quốc và Oxfam khẳng định, nhiều thiên tai xảy ra do biến đổi khí hậu dẫn đến di cư tăng lên ở Việt Nam. Phụ nữ di cư thường kiếm được việc làm ít hơn nam giới và nếu họ ở lại khi các thành viên khác trong gia đình di cư thì họ sẽ phải gánh vác trách nhiệm của nam giới. Một tình trạng phổ biến khác là nam giới trong gia đình thường làm việc xa nhà, nên khi thiên tai tàn phá thì phụ nữ buộc phải gánh vác hầu hết các hậu quả của rủi ro thiên tai.

Sinh kế của người nghèo, trong đó có nhiều phụ nữ và trẻ em nông thôn, phụ thuộc vào khai thác tự nhiên, sản xuất nông nghiệp, đánh bắt hải sản gần bờ. Cuộc sống của họ phụ thuộc khá nhiều vào các hệ sinh thái có sẵn trong tự nhiên. Nhưng biến đổi khí hậu đang làm mất đi nhiều khu rừng tự nhiên, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Điều này ảnh hưởng đến phụ nữ, trẻ em, vốn cuộc sống chủ yếu dựa vào các nguồn tài nguyên thiên nhiên có sẵn trong tự nhiên. Hơn nữa, phụ nữ, đặc biệt là phụ nữ nông thôn, thường phải gánh vác nhiều công việc nặng nhọc, đóng vai trò người chủ gia đình và lao động chính ở những nơi khí hậu khắc nghiệt, tài nguyên khan hiếm, các vùng bị nhiều thiên tai, trong bối cảnh biến đổi khí hậu ngày càng gia tăng, khiến họ bị giảm cơ hội được giải phóng và bình đẳng. 

Ngoài ra, biến đổi khí hậu làm giảm chất lượng nước và trữ lượng nước sạch, nguy cơ gia tăng các bệnh truyền nhiễm và đây chính là các yếu tố đe dọa sức khỏe sinh sản, điều kiện nuôi dưỡng, chăm sóc bà mẹ và trẻ em. 

Bốn là, ảnh hưởng tới mục tiêu bảo đảm việc làm, thu nhập thường xuyên.

Biến đổi khí hậu với những biểu hiện bất thường của thời tiết cực đoan đang làm hoang mạc hóa, đất đai bị xói mòn, gia tăng diện tích đất ngập mặn, ngập úng do lũ lụt hoặc hạn hán, làm thiếu đất canh tác, mất đất cư trú, gây ra những thay đổi trong đời sống xã hội và ảnh hưởng tới mục tiêu bảo đảm việc làm bền vững cho tất cả mọi người. Thống kê gần đây cho thấy, do ảnh hưởng biến đổi khí hậu, trong 10 năm trở lại đây, đã có 1,7 triệu người di cư ra khỏi đồng bằng sông Cửu Long vì thiếu đất canh tác, không có việc làm ổn định, tỷ lệ di cư này là gấp hai lần trung bình cả nước.

Theo kịch bản biến đổi khí hậu, nếu mực nước biển dâng 100cm sẽ có 16,8% diện tích đồng bằng sông Hồng, 4,79% diện tích tỉnh Quảng Ninh, 1,47% diện tích đất các tỉnh ven biển miền Trung từ Thanh Hóa đến Bình Thuận, 17,8% diện tích Thành phố Hồ Chí Minh, 4,79% diện tích tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu có nguy cơ bị ngập. Đồng bằng sông Cửu Long là khu vực có nguy cơ ngập cao (38,9% diện tích)(10). Hiện nay, diện tích đất gieo trồng của Việt Nam là khoảng 9,4 triệu héc-ta (trong đó có 4 triệu héc-ta đất trồng lúa). Nếu mực nước biển dâng thêm 1m thì Việt Nam sẽ bị mất đi khoảng hơn 2 triệu héc-ta đất trồng lúa (khoảng 50%)(11). Điều này đồng nghĩa với việc người dân mất đất sản xuất, mất đi sinh kế, kéo theo đó là gia tăng nghèo, đói. Theo số liệu của Tổng cục Thủy lợi, vụ đông - xuân năm 2015 - 2016 có 104.000ha lúa bị ảnh hưởng nặng đến năng suất do xâm nhập mặn, chiếm 11% số diện tích gieo trồng của 8 tỉnh ven biển(12). Tại các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, nhiễm mặn ảnh hưởng tới khả năng sinh trưởng và giảm năng suất lúa, trung bình giảm tới 20% - 25%, thậm chí tới 50%. Người dân trồng lúa, trồng cây ăn trái và nuôi trồng thủy sản đứng trước nguy cơ bị mất sinh kế, mất việc làm, mất thu nhập và rất có thể sẽ bị buộc phải trở thành người dân “tị nạn môi trường”, những người buộc phải di cư kiếm sống do không thể canh tác trên chính mảnh đất của mình… 

Phát triển bền vững vừa là nhu cầu cấp bách, vừa là xu thế tất yếu của phát triển xã hội. Trong hơn 35 năm đổi mới, Việt Nam đã thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp thúc đẩy phát triển bền vững và đạt được nhiều thành tựu quan trọng. Tuy nhiên, ảnh hưởng của biến đổi khí hậu gây ảnh hưởng to lớn tới mục tiêu phát triển bền vững ở Việt Nam.

Năm 2011, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt  Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu ; đồng thời, “xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu; dự báo, cảnh báo thiên tai… Huy động, ưu tiên các nguồn lực, thực hiện đồng bộ các giải pháp công trình và phi công trình để bảo vệ môi trường, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao năng lực nghiên cứu, giám sát biến đổi khí hậu, dự báo khí tượng, thủy văn và cảnh báo thiên tai; năng lực chủ động phòng, tránh, giảm nhẹ, năng lực chống chịu và thích ứng với biến đổi khí hậu”. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên do con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra”. Đặc biệt, Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng xác định rõ quan điểm, chủ trương trong bảo đảm an ninh môi trường như: Xây dựng chiến lược, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, trọng tâm là đất đai. Xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước quốc gia; hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là cơ chế tài chính về khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường, dịch bệnh. Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế trong bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về mặt Nhà nước, Việt Nam đã sớm có Luật Bảo vệ Môi trường từ năm 1993 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2005, 2014 và mới nhất, ngày 17-11-2020, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020. Luật quy định: Môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố tiên quyết cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và được đặt ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; thực hiện sàng lọc, lựa chọn đầu tư phát triển dựa trên các tiêu chí về môi trường.

Với quyết tâm, nỗ lực và sự thực hiện bài bản cũng như ảnh hưởng, vị thế của quốc gia trên trường quốc tế, chúng ta có niềm tin rằng Việt Nam là nhân tố tích cực, chủ động trọng vận động chính sách, nhiệm vụ, phát huy vai trò quốc tế đối với vấn đề này.

 

Thứ Năm, 13 tháng 7, 2023

Bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu: nhiệm vụ trọng tâm, lâu dài của cả hệ thống chính trị!

 


Ngày 14/7, tại trụ sở Liên Hợp Quốc tại Geneva, Thụy Sỹ, Hội đồng Nhân quyền LHQ đã kết thúc Khóa họp thường kỳ lần thứ 53, với 30 nghị quyết được thông qua, trong đó có Nghị quyết về biến đổi khí hậu (BĐKH) và quyền con người do Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines soạn thảo và đề xuất, nêu bật ảnh hưởng tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và quyền con người, nhấn mạnh yêu cầu hợp tác quốc tế để khắc phục những ảnh hưởng này.

Đoàn Việt Nam do Trợ lý Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Nguyễn Minh Vũ dẫn đầu, cùng với Bangladesh và Philippines đồng tổ chức phiên thảo luận chuyên đề về BĐKH và quyền con người với chủ đề “Tác động tiêu cực của BĐKH đối với việc hiện thực hóa đầy đủ quyền lương thực”. Phiên thảo luận đã thu hút sự tham gia của đông đảo đại diện các quốc gia, tổ chức quốc tế như Quỹ dân số LHQ và một số tổ chức phi chính phủ có trụ sở tại Geneva.



Tại phiên thảo luận này, các diễn giả và đại biểu đều nhấn mạnh tính cấp bách và sự cần thiết hành động để giải quyết các tác động bất lợi của BĐKH và bảo vệ quyền con người của các thế hệ hiện tại và tương lai; khẳng định tần suất và cường độ gia tăng của các hiện tượng thời tiết cực đoan như lũ lụt, hạn hán tác động trực tiếp đến an ninh lương thực; kêu gọi cộng đồng quốc tế hỗ trợ khẩn cấp để giải quyết những thách thức do BĐKH gây ra.

Ngày 12/7, HĐNQ đã thông qua bằng đồng thuận Nghị quyết năm 2023 về BĐKH và quyền con người, với chủ đề “Tác động tiêu cực của BĐKH đối với sinh kế và ảnh hưởng của những tác động này đối với quyền con người”, với đông đảo các nước đồng bảo trợ (80 nước đồng bảo trợ, tính đến cuối ngày 14/7/2023, giờ Geneva). Đây là thành công của nỗ lực từ đề xuất, soạn thảo nội dung, tham vấn và vận động của Phái đoàn Việt Nam cùng các Phái đoàn Bangladesh và Philippines tại Geneva. Nghị quyết của HĐNQ về BĐKH và quyền con người năm nay ghi nhận mối liên hệ giữa BĐKH và xói mòn sinh kế; nhấn mạnh sự cần thiết phải giải quyết các lỗ hổng trong bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em gái trong bối cảnh BĐKH; khẳng định vai trò của phụ nữ trong quá trình ra quyết định và ban hành chính sách về BĐKH; kêu gọi thực hiện các thỏa thuận tài trợ, theo quyết định tại COP27, để hỗ trợ các nước đang phát triển ngăn chặn, giảm thiểu và giải quyết tổn thất và thiệt hại do BĐKH gây ra.... Nghị quyết về BĐKH và quyền con người được Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines - Nhóm nòng cốt 3 nước, giới thiệu hàng năm từ năm 2014.

Đây là thành công trọng vận động quốc tế đoàn kết giải quyết vấn đề này của Việt Nam, đồng thời nó cũng là một phần nhiệm vụ trong tổng thể chính sách của Đảng, Nhà nước trong nhiều năm qua và sự nỗ lực của cả hệ thống chính trị nhằm đảm bảo quyền con  người trong BĐKH ở Việt Nam

Bảo đảm quyền con người trong biến đổi khí hậu, bảo đảm an ninh môi trường được coi là một trong những nhiệm vụ thường xuyên, lâu dài của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội. Tại Đại hội XI, Đảng ta đã khẳng định: “Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, toàn xã hội và của mọi công dân”. Văn kiện Đại hội XII của Đảng cũng nhấn mạnh: “Ngăn chặn và từng bước khắc phục sự xuống cấp của môi trường tự nhiên do con người, nhất là do các dự án phát triển kinh tế gây ra”. Đặc biệt, Báo cáo Chính trị Đại hội XIII của Đảng xác định rõ quan điểm, chủ trương trong bảo đảm an ninh môi trường như: Xây dựng chiến lược, hoàn thiện hệ thống thể chế quản lý, sử dụng có hiệu quả tài nguyên, trọng tâm là đất đai. Xây dựng chiến lược an ninh nguồn nước quốc gia; hoàn thiện chính sách, pháp luật, nhất là cơ chế tài chính về khai thác, sử dụng tài nguyên nước. Xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường và biến đổi khí hậu, dự báo, cảnh báo thiên tai, ô nhiễm và thảm họa môi trường, dịch bệnh. Chủ động, tích cực hợp tác quốc tế và thực hiện các cam kết quốc tế trong bảo đảm an ninh sinh thái, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, thích ứng với biến đổi khí hậu.

Về mặt Nhà nước, Việt Nam đã sớm có Luật Bảo vệ Môi trường từ năm 1993 được sửa đổi, bổ sung vào các năm 2005, 2014 và mới nhất, ngày 17-11-2020, Quốc hội đã thông qua Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020. Luật quy định: Môi trường là điều kiện, nền tảng, yếu tố tiên quyết cho phát triển kinh tế-xã hội bền vững. Bảo vệ môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu phải gắn kết hài hòa với phát triển kinh tế và được đặt ở vị trí trung tâm của các quyết định phát triển; không đánh đổi môi trường lấy tăng trưởng kinh tế; thực hiện sàng lọc, lựa chọn đầu tư phát triển dựa trên các tiêu chí về môi trường.

Các nội dung về bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu ở Việt Nam được xây dựng trên cơ sở nội luật hóa các điều ước quốc tế liên quan đến biến đổi khí hậu mà Việt Nam là thành viên; gắn trách nhiệm thực hiện các yêu cầu về ứng phó với biến đổi khí hậu trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ của các tổ chức, cá nhân với các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc thực hiện chức năng quản lý nhà nước. Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020 của Việt Nam quy định: “Bảo vệ môi trường gắn kết hài hòa với an sinh xã hội, quyền trẻ em, bình đẳng giới, bảo đảm quyền mọi người được sống trong môi trường trong lành”. Luật cũng quy định cộng đồng có quyền được cung cấp và yêu cầu cung cấp thông tin về biến đổi khí hậu, trừ các thông tin thuộc danh mục bí mật nhà nước và cơ quan quản lý về biến đổi khí hậu có trách nhiệm cung cấp thông tin, tổ chức các hoạt động nâng cao nhận thức cộng đồng và tạo điều kiện thuận lợi cho cộng đồng tham gia các hoạt động ứng phó với biến đổi khí hậu.

Cùng với đó, việc bảo đảm quyền con người trong chính sách, pháp luật về biến đổi khí hậu của Việt Nam còn thể hiện trong các quy định về xây dựng quy hoạch bảo vệ môi trường; gắn với xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội; các dự án đầu tư; quản lý phát thải khí nhà kính, thu hồi năng lượng từ chất thải, trong sản xuất và tiêu thụ thân thiện môi trường, trong phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ; hoạt động khai thác bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên nhằm phục vụ mục tiêu phát triển bền vững.

Không phải đến Khóa họp 53 của HĐNQ LHQ mới nêu ra vấn đề này. Tại Khóa họp lần thứ 50 của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc trước đó, Việt Nam cùng Bangladesh và Philippines đồng tổ chức Phiên thảo luận chuyên đề về đảm bảo quyền của các nhóm dễ bị tổn thương trong bối cảnh biến đổi khí hậu, đồng thời, giới thiệu dự thảo Nghị quyết năm 2022 về biến đổi khí hậu và quyền con người, tập trung vào quyền lương thực và biến đổi khí hậu. Đây là Nghị quyết được Việt Nam, Bangladesh và Philippines giới thiệu hằng năm kể từ năm 2014, để Hội đồng Nhân quyền xem xét, thông qua với trọng tâm mỗi năm tập trung vào từng chủ đề cụ thể (như quyền trẻ em, quyền sức khỏe, quyền của người di cư, quyền phụ nữ… trong bối cảnh biến đổi khí hậu).

Sự tham gia tích cực của Việt Nam trong việc xây dựng và thông qua Nghị quyết này cũng như trong các hoạt động của Nhóm nòng cốt phản ánh nỗ lực của Việt Nam trong việc ứng phó với biến đổi khí hậu, đồng thời góp phần thực hiện chính sách đối ngoại chủ động, tích cực, có trách nhiệm với các vấn đề chung của cộng đồng quốc tế.