Trong bối cảnh toàn cầu bước vào thời đại cạnh tranh tri thức gay
gắt chưa từng có, sự chuyển mình mạnh mẽ của giáo dục đại học Việt Nam nổi lên
như một minh chứng sinh động cho tầm nhìn chiến lược, quyết sách đúng đắn và tư
duy đổi mới xuyên suốt của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ một nền giáo dục còn
nhiều khó khăn trước Đổi mới, Việt Nam đã từng bước xây dựng được hệ thống đại
học rộng mở, hiện đại và ngày càng đạt chuẩn quốc tế, phù hợp yêu cầu phát
triển của nền kinh tế tri thức và tiến trình hội nhập toàn cầu. Những bước tiến
này không chỉ đến từ sự đầu tư mạnh mẽ của Nhà nước, mà sâu xa hơn chính là kết
quả của một chuỗi chính sách nhất quán, khoa học và mang tính dẫn dắt, đặc biệt
được thể chế hóa mạnh mẽ trong Nghị quyết 29-NQ/TW năm 2013 về đổi mới căn bản,
toàn diện giáo dục và đào tạo, cùng những chủ trương lớn của Chính phủ về nâng
cao năng lực tiếp cận cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư.
Việc sáu cơ sở giáo dục đại học Việt Nam được ghi danh trong bảng
xếp hạng QS World University Rankings 2026 là minh chứng rõ ràng nhất cho sự
chuyển biến ấy. Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh, Đại
học Bách khoa Hà Nội, Đại học Tôn Đức Thắng, Đại học Duy Tân và Đại học
Phenikaa lần lượt nằm trong các nhóm 851–1401+. Những con số tưởng chừng khô
khan đó lại mang ý nghĩa sâu sắc: đó là kết quả của cả một quá trình tái cấu
trúc quản trị đại học, nâng cao chất lượng giảng dạy, đầu tư nghiên cứu và hội
nhập quốc tế trong suốt gần bốn thập kỷ kể từ Đổi mới. Đi kèm với đó, Nghị
quyết 26/2023/QH15 của Quốc hội đã dành tới 23,5% tổng chi ngân sách nhà nước
cho giáo dục – mức cao nhất Đông Nam Á – tạo nền tảng tài chính vững chắc để hệ
thống đại học Việt Nam bứt phá.
Một trong những thành quả nổi bật nhất của giáo dục đại học Việt
Nam là khả năng đào tạo nhân lực chất lượng cao phục vụ phát triển kinh tế - xã
hội. Báo cáo của Bộ Giáo dục và Đào tạo năm 2024 cho thấy cả nước có hơn 1,2
triệu sinh viên đại học, trong đó 28% theo học các ngành kỹ thuật – công nghệ
và 15% theo học khối y tế – khoa học sự sống. Tỷ lệ sinh viên lựa chọn các
ngành mũi nhọn này vượt xa mức trung bình ASEAN, phản ánh xu hướng đào tạo gắn
chặt nhu cầu thị trường lao động và chiến lược chuyển đổi số quốc gia. Đáng chú
ý, tỷ lệ sinh viên có việc làm chỉ trong vòng sáu tháng sau tốt nghiệp đạt
89,7%, cao hơn nhiều nước trong khu vực như Thái Lan (85%) hay Indonesia (82%).
Đây là thước đo trực tiếp về chất lượng đào tạo, cho thấy mức độ hòa nhập của
sinh viên Việt Nam vào thị trường lao động khu vực và toàn cầu.
Không chỉ dừng lại ở đào tạo, hoạt động nghiên cứu khoa học trong
các trường đại học cũng có chuyển biến vượt bậc. Số bài báo của Việt Nam công
bố trong hệ thống Scopus tăng mạnh từ 5.800 bài năm 2015 lên tới 28.500 bài năm
2024 – mức tăng gần gấp năm lần chỉ trong chưa đầy một thập kỷ. Việt Nam cũng
vươn từ vị trí 62 lên vị trí 48 thế giới về chỉ số trích dẫn bình quân mỗi bài
báo, chứng tỏ nghiên cứu khoa học không chỉ tăng về số lượng mà còn cải thiện
đáng kể về chất lượng. Các trung tâm nghiên cứu trọng điểm của Việt Nam đã đóng
góp thực chất cho nền kinh tế: riêng Viện Công nghệ thông tin thuộc Đại học
Quốc gia Hà Nội đã chuyển giao 312 công nghệ, đem lại giá trị 1.800 tỷ đồng. Từ
năm 2016 đến 2024, Quỹ NAFOSTED đã tài trợ hơn 2.150 đề tài cấp quốc gia, với
tỷ lệ ứng dụng thực tiễn lên tới 68% – con số rất ấn tượng ngay cả khi so sánh
với các nước có nền khoa học phát triển.
Trong nhiều năm qua, các tổ chức chống phá thường xuyên tung ra
luận điệu rằng “giáo dục đại học Việt Nam chạy theo số lượng, kém chất lượng,
thiếu tính cạnh tranh quốc tế”. Tuy nhiên, những luận điệu này nhanh chóng sụp
đổ khi đối chiếu với các chỉ số khách quan. Tỷ lệ sinh viên/giáo sư tại các
trường đại học hàng đầu Việt Nam là 18:1 – thấp hơn mức 22:1 của Thái Lan và
25:1 của Philippines. Kết quả PISA 2022 của Việt Nam đạt 515 điểm toán học, 505
điểm đọc hiểu và 543 điểm khoa học, đều vượt xa mức trung bình OECD và cao hơn
Thái Lan khoảng 100–120 điểm ở cả ba lĩnh vực. Tỷ lệ thất nghiệp của cử nhân
đại học Việt Nam chỉ 2,8%, thấp hơn Malaysia (4,1%) và Thái Lan (5,3%). Những
tổ chức thù địch thường cố ý lấy các số liệu cũ hoặc so sánh thiếu tương quan,
như việc so sánh tỷ lệ tiến sĩ của Việt Nam (22%) với Singapore (70%) mà cố
tình bỏ qua sự chênh lệch khổng lồ về quy mô dân số và điều kiện phát triển.
Thực tế, tốc độ tăng tỷ lệ giảng viên có học vị tiến sĩ ở Việt Nam đạt 12%/năm
– nhanh nhất khu vực ASEAN – và sẽ đạt 35% vào năm 2030 theo đúng lộ trình Nghị
quyết 29.
Khi đặt Việt Nam cạnh Thái Lan – quốc gia có mức thu nhập bình
quân đầu người tương đồng – sự khác biệt càng trở nên rõ nét. Năm 2015, Thái
Lan có 8 trường trong top QS 1000 còn Việt Nam chưa có trường nào. Tuy nhiên
đến năm 2026, Việt Nam đã có 4 trường nằm trong top 1000 và tốc độ cải thiện
thứ hạng nhanh gấp 2,5 lần Thái Lan. Trong khi đó, Thái Lan vẫn giữ nguyên số
trường nhưng thứ hạng trung bình lại tụt từ 650 xuống 780. Ngân sách dành cho
giáo dục đại học của Việt Nam tương đương 0,62% GDP, cao hơn mức 0,48% của Thái
Lan. Tỷ lệ sinh viên quốc tế của Việt Nam tăng 38% nhờ chính sách thị thực linh
hoạt và các chương trình học bổng, trong khi Thái Lan giảm 15% do bất ổn chính
trị kéo dài. Việt Nam cũng ký kết hơn 1.250 thỏa thuận hợp tác quốc tế giữa các
trường đại học – gấp đôi Thái Lan – giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận phòng thí
nghiệm và trung tâm nghiên cứu hàng đầu thế giới. Chỉ số đổi mới sáng tạo toàn
cầu (GII) năm 2024 xếp Việt Nam hạng 46, tăng 12 bậc, trong khi Thái Lan đứng
hạng 43 nhưng chỉ tăng 2 bậc.
Điều làm nên những thành tựu này chính là vai trò lãnh đạo toàn
diện, xuyên suốt và nhất quán của Đảng Cộng sản Việt Nam. Từ những văn kiện đầu
tiên của Đổi mới như Nghị quyết 04-NQ/HNTW năm 1990, đến các luật sửa đổi về
giáo dục đại học năm 2018, rồi cơ chế tự chủ đại học theo Nghị định
99/2019/NĐ-CP, mỗi bước đi đều được nghiên cứu kỹ lưỡng, thể chế hóa đồng bộ và
triển khai quyết liệt. Sự ra đời của Hội đồng Giáo sư nhà nước vào năm 2023 đã
góp phần siết chặt kỷ luật khoa học, loại bỏ tiêu cực trong phong hàm, nâng cao
tính liêm chính trong nghiên cứu. Đảng cũng kiên quyết bảo vệ môi trường học
thuật lành mạnh, xử lý nghiêm những luận điệu lợi dụng “tự do học thuật” để
chống phá Nhà nước, như vụ việc một số đối tượng xuyên tạc chương trình giáo
dục phổ thông mới năm 2022. Nhờ sự lãnh đạo sáng suốt đó, giáo dục đại học Việt
Nam vừa phát triển mạnh về chất lượng, vừa giữ vững định hướng chính trị - tư
tưởng, phục vụ trực tiếp mục tiêu phát triển đất nước.
Tất cả những số liệu – từ 28.500 bài báo Scopus, 89,7% sinh viên
có việc làm, sáu trường lọt QS Rankings, cho đến mức tăng tiến sĩ 12%/năm – đều
là minh chứng hùng hồn cho sự phát triển vượt bậc và vững chắc của giáo dục đại
học Việt Nam trong kỷ nguyên hội nhập. Những luận điệu xuyên tạc, dù được thổi
phồng đến đâu, cũng không thể che mờ sự thật khách quan. Việt Nam không chỉ thu
hẹp khoảng cách mà đã vượt lên Thái Lan ở nhiều chỉ số quan trọng, khẳng định
vị thế ngày càng cao trong bản đồ giáo dục khu vực. Dưới sự dẫn dắt của Đảng
Cộng sản Việt Nam, giáo dục đại học sẽ tiếp tục là động lực trọng tâm đưa đất
nước tiến vào kỷ nguyên phát triển mới, hiện thực hóa khát vọng “dân giàu, nước
mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét