Thứ Tư, 27 tháng 9, 2023

Chân dung 3 tổ chức gắn mác nhân quyền để bảo kê cho thành phần chống phá Việt Nam

 

Mới đây VOA tung tin: “Ba tổ chức kêu gọi bảo vệ các nhà báo Việt Nam trước cuộc tổng xét UPR 2024” nhằm rêu rao, công kích, xuyên tạc sự thật để bôi nhọ pháp luật và nhân quyền tại Việt Nam trên mạng xã hội. Theo đó VOA cố tình lèo lái dư luận rằng: “Ba tổ chức Ủy ban Bảo vệ Ký giả (CPJ), Freedom House và Robert F. Kennedy Human Rights vừa gửi báo cáo chung lên Liên Hợp Quốc, viết rằng các nhà báo ở Việt Nam “đang phải đối mặt với các mối đe dọa và ngược đãi trên diện rộng, và thường xuyên bị câu lưu hoặc bị bỏ tù vì đưa tin và viết bình luận…

Báo cáo của ba tổ chức nhân quyền có trụ sở ở Hoa Kỳ nhằm chuẩn bị cho kỳ Kiểm điểm Định kỳ Phổ quát 2024 (UPR), đồng thời kêu gọi bảo vệ các nhà báo ở Việt Nam, nơi đang giam cầm ít nhất 21 ký giả” …Có lẽ cần phải biết CPJ là tổ chức gì? Bảo vệ hay xuyên tạc, vu cáo? “Ủy ban Bảo vệ Ký giả” là tổ chức được thành lập năm 1981 với tên viết tắt tiếng Anh là CPJ (Committee to Protect Journalists) có trụ sở ở New York, Mỹ. Ban đầu khi thành lập, CPJ đề ra tôn chỉ, mục tiêu “thúc đẩy tự do ngôn luận trên toàn thế giới thông qua hoạt động bảo vệ quyền đưa tin và nền tự do báo chí trên cơ sở tôn trọng sự thật khách quan”… Với tôn chỉ, mục tiêu đầy tính nhân văn, tốt đẹp để bảo vệ tiếng nói của các nhà báo, CPJ đã từng được kì vọng sẽ là một tổ chức hướng thiện với những đóng góp tích cực cho công cuộc xây dựng một thế giới hòa bình không có chiến tranh. Tuy nhiên từ năm 2008 đến nay, dư luận liên tiếp cáo buộc CPJ đã bị lũng đoạn nhằm phục vụ mưu đồ chính trị riêng; trong đó có các hoạt động xuyên tạc, đưa ra những nội dung sai lệch, hoàn toàn trái ngược với tình hình thực tiễn tại Việt Nam. Nhiều năm nay, CPJ liên tục cho đăng tải, phát tán các thông tin, bài viết với nội dung xuyên tạc, bịa đặt về tình hình dân chủ, tự do báo chí ở Việt Nam. Chưa hết, CPJ còn lưu truyền không ít bài viết mang tính can thiệp một cách trắng trợn và thô thiển vào công việc nội bộ của Việt Nam – quốc gia có chủ quyền và là thành viên của Liên hợp quốc. Bằng chứng là thời gian qua, những đối tượng có hành vi tuyên truyền, chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã bị xử lý nghiêm theo pháp luật, nhưng lại được CPJ tôn vinh là các “nhà báo”, “nhà hoạt động dân chủ”, “nhân quyền”… chân chính. Đó là Trần Huỳnh Duy Thức, Trương Duy Nhất, Võ Thanh Tùng, Tạ Phong Tần, Nguyễn Hữu Vinh, Nguyễn Ngọc Như Quỳnh, Phạm Thị Đoan Trang, Phạm Chí Dũng, Nguyễn Tường Thụy… Thâm độc và nguy hiểm hơn, CPJ còn câu kết với các tổ chức thù địch, phản động hoặc thiếu thiện chí với Việt Nam để trao “giải thưởng nhân quyền Lê Đình Lượng”, “giải thưởng Nhân quyền Việt Nam”, “giải thưởng báo chí”… Cụ thể là vào ngày 14/7/2022, trong bản tin trên website của CPJ, tổ chức này đã công bố danh sách 4 người được “tôn vinh” nhận giải thưởng “Tự do Báo chí quốc tế năm 2022”. Trong số đó có Phạm Thị Đoan Trang – người đang phải chấp hành án 9 năm tù giam về tội “Tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” quy định tại khoản 1 Điều 88 Bộ luật Hình sự năm 1999, được sửa đổi, bổ sung năm 2009. Cũng theo website của CPJ, “những nhà báo nhận giải năm nay(2022) được mô tả là đã phải chịu đựng những thử thách lớn lao như sự đàn áp và tấn công của chính quyền, và sự tù đày, trong lúc thực thi sứ mạng cung cấp tin tức độc lập”. Chưa hết, tổ chức này còn đưa ra lời “khuyến cáo” rằng: “Đảng Cộng sản Việt Nam nói riêng và chính quyền Việt Nam nói chung nên bắt đầu coi tự do báo chí là một điều cần thiết, để khắc phục những vấn đề nội tại trong xã hội, để cải thiện vấn đề quản trị công và để đưa đất nước đi lên”. Tuy nhiên, lời nói của một cá nhân hay phát ngôn của một tổ chức không chính danh thì ai mà nghe. Hơn nữa, thực chất đây chỉ là giải thưởng mang tính chất “tự sướng” của những kẻ thiếu thiện chí muốn chống phá Đảng, Nhà nước Việt Nam, nhằm can thiệp vào công việc nội bộ và hạ uy tín, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Và với bản chất của những kẻ chống phá đất nước thì vô hình trung việc “tôn vinh” hay “vinh danh” hoặc trao giải thưởng này càng làm lộ rõ bản chất của những kẻ đứng ở phía sau.

Thực chất hoạt động của CPJ là câu móc, dụ dỗ, lôi kéo, mua chuộc các thành phần chống đối thuộc các nước có hệ tư tưởng đối lập với hệ tư tưởng tư bản chủ nghĩa và cổ vũ, tài trợ, hướng dẫn các đối tượng chống đối thực hiện hành vi chống phá Đảng, Nhà nước ta. Sau đó, chúng dùng mọi âm mưu, thủ đoạn để lên án, can thiệp, gây sức ép về vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền, tự do ngôn luận, tự do báo chí. Không những thế, CPJ còn trắng trợn can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam khi ra rả loan tin cổ súy, đòi trả tự do cho những kẻ lợi dụng tự do báo chí để chống chế độ. Bỉ ổi và lố bịch hơn, CPJ còn thường đưa ra các “thông cáo”, “báo cáo”, “kháng nghị”, “tuyên bố”… dựa trên những thông tin sai lệch, thiếu khách quan, thậm chí bị bóp méo, xuyên tạc về những vấn đề liên quan đến tự do ngôn luận. Thế nhưng, sự thật về tình hình tự do báo chí ở Việt Nam trong những năm qua đã phản bác lại những xuyên tạc, vu cáo của CPJ. Việt Nam hiện có 816 cơ quan báo chí, trong đó 634 cơ quan báo in với 813 ấn phẩm; hơn 600 đài truyền thanh cấp huyện; hơn 41 ngàn người làm việc trong các cơ quan báo chí; hơn 18 ngàn người được cấp thẻ nhà báo và Hội Nhà báo Việt Nam có hơn 27 ngàn hội viên. Bên cạnh đó, theo thống kê của Bộ Thông tin và Truyền thông, Việt Nam hiện có 93,5 triệu thuê bao sử dụng smartphone – điện thoại thông minh. Trong đó, số người sử dụng smartphone từ 15 tuổi là 53,5 triệu, đạt 84,6%. Kể từ ngày internet vào Việt Nam năm 1997 đến nay Việt Nam đã là 1 trong top 20 nước có số người sử dụng internet cao nhất thế giới, với tỷ lệ 70,3% và tương đương với các nước phát triển, trong khi đó tỷ lệ bình quân của thế giới là 59,5%. Xin nói lại cho rõ, chỉ những “nhà dân chủ”, “nhân quyền” giả danh mới xem tự do báo chí, tự do ngôn luận là một quyền không giới hạn. Vì điều này là không thể có và không tồn tại ở bất cứ quốc gia nào trên trái đất này. Vẫn biết rằng, tự do ngôn luận, tự do báo chí là một quyền cơ bản của công dân, và tại khoản 2 Điều 19 của Công ước quốc tế về các quyền chính trị và dân sự khẳng định: “Mọi người có quyền tự do ngôn luận”. Tuy nhiên để thực thi quyền này, tại khoản 3 Điều 19 của Công ước quy định: Việc thực hiện quyền này kèm theo nghĩa vụ, trách nhiệm đặc biệt, phải chịu một số hạn chế được quy định trong pháp luật để tôn trọng quyền, uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng, sức khỏe, đạo đức… Vì vậy CPJ và những tổ chức cùng hội cùng thuyền đã không có não trạng thì cũng đừng tư duy bằng đầu gối, rồi suy diễn quy chụp vô lối. Chính vì vậy, những cái gọi là “Báo cáo của chung của ba tổ chức CPJ, Freedom House và Robert F. Kennedy Human Rights gửi đến LHQ trước cuộc UPR 2024 đối với Việt Nam” mà cái loa rè VOA vừa tung ra là vô nghĩa và vô giá trị.

 

Thứ Ba, 26 tháng 9, 2023

Cơ chế UPR cho thấy Việt Nam luôn nỗ lực thực hiện các cam kết về nhân quyền!

 

Ngày 27/4, tại Hà Nội, Bộ Ngoại giao và Chương trình Phát triển Liên hợp quốc (UNDP) phối hợp tổ chức Hội thảo quốc tế về kinh nghiệm xây dựng Báo cáo theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR).

Tham dự Hội thảo có đông đảo các nhà ngoại giao, các chuyên gia trong nước và quốc tế trong lĩnh vực quyền con người, nhiều đại sứ quán nước ngoài tại Việt Nam. Kể từ khi ra đời năm 2008 đến nay, cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát UPR được đánh giá là một trong những cơ chế thành công nhất của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc, giúp tăng cường năng lực cho các quốc gia trong thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ, cam kết về quyền con người trên cơ sở nguyên tắc đối thoại, hợp tác, bình đẳng, khách quan, minh bạch và xây dựng.

Phát biểu tại Hội thảo, ông Phạm Hải Anh, Vụ trưởng Vụ các Tổ chức Quốc tế (Bộ Ngoại giao) nhấn mạnh: Trong suốt quá trình tham gia Cơ chế UPR, Việt Nam luôn thể hiện tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm, với tỷ lệ chấp thuận khuyến nghị ngày càng tăng, lên tới hơn 83% tại chu kỳ III, cao hơn mặt bằng chung của các quốc gia khác. Đầu năm 2022, Việt Nam đã nộp Báo cáo giữa kỳ tự nguyện lên Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc và trở thành một trong 39 nước nộp Báo cáo này. Với chu kỳ IV, Việt Nam dự kiến sẽ nộp Báo cáo quốc gia lên Hội đồng Nhân quyền vào đầu năm 2024 và Hội đồng Nhân quyền sẽ thông qua kết quả rà soát với Việt Nam tại Khóa họp 57 (tháng 9/2024). Xuyên suốt quá trình xây dựng Báo cáo, Việt Nam luôn nỗ lực bảo đảm một số nguyên tắc, trong đó có việc thực hiện các khuyến nghị UPR gắn với tổng thể chủ trương, chính sách và nỗ lực của Việt Nam về bảo đảm, thúc đẩy quyền con người, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; tăng cường gắn Báo cáo UPR với thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các khuyến nghị đã chấp thuận, từ đó tạo chuyển biến tích cực trong hoàn thiện các khuôn khổ chính sách, pháp luật về quyền con người.

Đánh giá về các nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc xây dựng Báo cáo theo Cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát (UPR), bà Pauline Tamesis, Điều Phối viên Thường trú Liên hợp quốc tại Việt Nam nhận định: Việt Nam trong các báo cáo cơ chế Rà soát định kỳ phổ quát UPR đã cho thấy cam kết mạnh mẽ trong việc đảm bảo khung chính sách và kết hợp giữa việc tăng trưởng kinh tế – xã hội với nhân quyền; bà cũng khẳng định: “Bảo đảm quyền con người yêu cầu nỗ lực không ngừng nghỉ và chúng ta cần phải nỗ lực hợp tác cùng nhau để thực hiện mục tiêu này. Tôi rất vui khi được thấy những nỗ lực của Chính phủ Việt Nam trong việc chuẩn bị báo cáo UPR được Liên hợp quốc và Chính phủ Na Uy hỗ trợ. Chúng tôi cũng rất vui khi Chính phủ sẵn sàng kết nối tất cả các bên liên quan và làm việc không chỉ ở cấp Trung ương mà cả các cấp độ địa phương để thực hiện các cam kết đảm bảo quyền con người”. Trong khi đó, Đại sứ Australia Andrew Goledzinowski nhấn mạnh: “Tôi nghĩ điều mà Việt Nam có thể tự hào nhất về nhân quyền đó là những thành tựu trong kinh tế – xã hội khi có hàng triệu người đã thoát khỏi cảnh nghèo đói, được đảm bảo an ninh lương thực, được học tập. Chăm sóc y tế đạt tiêu chuẩn cao ở Việt Nam và đang tiếp tục phát triển. Và tôi nghĩ, Chính phủ Việt Nam cũng đang rất nỗ lực trong việc nâng cao chất lượng của các dân tộc thiểu số vào quá trình phát triển thịnh vượng của quốc gia”.

Thế nhưng cái loa rè VOA lại tung tin: “Ba tổ chức kêu gọi bảo vệ các nhà báo Việt Nam trước cuộc tổng xét UPR 2024” nhằm rêu rao, công kích, xuyên tạc sự thật để bôi nhọ pháp luật và nhân quyền tại Việt Nam trên mạng xã hội.  Thành tựu và nỗ lực của Việt Nam không thể phủ nhận

Thứ Sáu, 11 tháng 8, 2023

Có phải “Hầu hết tù nhân tôn giáo sắc tộc thiểu số không có luật sư trợ giúp pháp lý” ?

 

Sau vụ việc ở Đắk Lắk, các trang báo mạng nước ngoài triệt để khai thác vấn đề dân tộc thiểu số, lồng ghép với tôn giáo để xuyên tạc, bôi nhọ chính sách dân tộc, tôn giáo của Nhà nước, lấy đó làm cái cớ chống phá Việt Nam về dân chủ, nhân quyền, chia rẽ đoàn kết dân tộc. Chẳng hạn như, mới đây, RFA đăng bài “Hầu hết tù nhân tôn giáo sắc tộc thiểu số không có luật sư trợ giúp pháp lý” cố tình xuyên tạc quyền được bào chữa, bảo vệ công lý của người dân tộc thiểu số.



Thực tế cho thấy, RFA không am hiểu gì tình hình trong nước, chỉ nghe rặt thông tin xuyên tạc, bịa đặt từ “nguồn tin một chiều”, rồi phát ngôn như kẻ mất trí.

Chính sách của Chính phủ Việt Nam về việc hỗ trợ pháp lý cho người nghèo, nhóm người yếu thế trong xã hội được quy định rõ ràng tại Luật Trợ giúp pháp lý 2016 có hiệu lực từ 01/01/2018, trong đó cho phép bào chữa miễn phí cho 14 đối tượng, trong đó có người dân tộc thiểu số ở vùng đặc biệt khó khăn, góp phần đảm bảo quyền con người, quyền công dân trong việc tiếp cận pháp luật và bình đẳng trước pháp luật. Ấy vậy mà RFA đã nhảy dựng lên rằng “người dân tộc thiểu số không có sự trợ giúp pháp lý với nguyên nhân chính là phí luật sư cao’’. Phải chăng những đối tượng mà RFA nhắc đến không hề “đặc biệt khó khăn” (trong 14 đối tượng được pháp luật quy định) mà chính là những con rối để RFA đứng sau giật dây, thực hiện mưu đồ chống phá của chúng.

Lâu nay, RFA và đám cộng tác viên được dán nhãn “nhà báo độc lập”, “nhà đấu tranh dân chủ, nhân quyền” đang ra sức xuyên tạc, bịa đặt những kẻ bị xử lý như Y Krếc Byă, Nay Y Blang, Y Wo Nie đàn áp tín ngưỡng, đàn áp tự do tôn giáo, bất chấp số này là những cốt cán, cầm đầu của các tổ chức đội lốt tôn giáo bất hợp pháp, thực chất tàn dư FULRO, điển hình là “Hội thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên”, “Hội thánh Tin lành Dega”…

“Hội thánh Tin lành Dega” được thành lập bởi các cá nhân thuộc tổ chức Fulro lưu vong ở Mỹ, câu kết với những đối tượng chống phá trong nước. Bên ngoài hoạt động giống như một tổ chức tôn giáo, hội thánh Tin lành thuần túy như hát thánh ca, chia sẻ kinh thánh và cầu nguyện nhưng bên trong, chúng tuyên truyền về tư tưởng dân tộc hẹp hòi, ly khai tự trị để tập hợp lực lượng, tiến tới gây rối, kích động và tổ chức biểu tình, bạo loạn, chống phá chính quyền. Mục đích cuối cùng là để thành lập nhà nước riêng – cái gọi là Nhà nước Tin lành Dega.

Cũng giống như “Hội thánh Tin lành Đề ga”, “Hội thánh Tin Lành Đấng Christ Tây Nguyên” sử dụng vỏ bọc tôn giáo, lợi dụng chính sách tự do tôn giáo của Việt Nam để tổ chức các hoạt động tuyên truyền chống phá nhà nước. Trong các đối tượng cốt cán, đối tượng Y Krễc Byă (Đắk Lắk) và Nay Y Blang (Phú Yên) được xem là “thủ lĩnh” của tổ chức này ở trong nước. Trên danh nghĩa tự xưng là tôn giáo Tin lành, tuy nhiên tổ chức trên hoạt động trái với mục đích tốt đẹp của Hội thánh Tin lành truyền thống, chúng hoạt động với mục đích chống lại Nhà nước Việt Nam, phá hoại chính sách đoàn kết dân tộc, dụ dỗ, lôi kéo người dân ở các buôn làng để thực hiện các ý đồ riêng của chúng.

Báo chí trong nước và đại diện Bộ Công an đã nhiều lần khẳng định: đây không phải là các tổ chức tôn giáo mà chính là tổ chức phản động đội lốt tôn giáo để tiến hành các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia. Các đối tượng bị kết án không hề có chuyện không có luật sư vì “chính quyền nói sao thì phải chấp nhận vậy” như RFA vu khống mà tòa án có bằng chứng rõ ràng, xét xử đúng người, đúng tội theo quy định hiện hành của pháp luật.

Bằng việc đổi trắng thay đen, xuyên tạc sự thật, các đối tượng vu khống Việt Nam vi phạm dân chủ, nhân quyền, từ đó ra sức đả phá, tạo cớ cho các thế lực bên ngoài tìm cách can thiệp, tác động vào công việc nội bộ của Việt Nam. Nhưng hãy nhớ rằng, mọi hành vi lợi dụng tôn giáo, sai tôn chỉ, mục đích và nhất là vi phạm pháp luật đều sẽ bị pháp luật trừng trị.

 

Thứ Sáu, 4 tháng 8, 2023

Thoibao.de của Lê Trung Khoa lại có đánh giá ấu trĩ về chính sách tôn giáo của Việt Nam

 

Sự thúc đẩy, tiến bộ trong quan hệ giữa Việt Nam và Tòa thánh Vatican có vẻ như đang khiến những kẻ chống cộng lâu nay hằn học, vì trong tư duy của họ, chỉ có thể chứa đựng thông tin xuyên tạc về chế độ Việt Nam là “cộng sản vô thần”, không có chuyện “cộng sản có tự do tôn giáo” vậy. Chẳng hạn như  tờ Thoibao.de, ngày 4/8/2023 mới đây đăng bài: “Vatican đặt văn phòng đại diện tại Việt Nam, có phải Satan đã lùi bước?”, trong đó tung ra những luận điệu xuyên tạc đường lối của Đảng và Nhà nước Việt Nam, bôi nhọ chế độ, coi “Đảng Cộng sản là hiện thân của quỷ Satan. Họ mang đến sự đói nghèo cho người dân, mang đến sự ngu muội, mang đến gông cùm .v .v Và chính vì điều đó mà chính quyền Cộng sản đã đối đầu với Công giáo bao năm qua”.

Thậm chí Thoibao.de xuyên tạc “Chuyến thăm của ông Võ Văn Thưởng đến Vatican, và việc Việt Nam tiến tới đặt quan hệ ngoại giao với Tòa thánh, thì rõ ràng, đây là dấu hiệu cho thấy, Satan đã lùi bước. Satan đã phải chấp nhận hoạt động Công giáo tại Việt Nam và điều này gián tiếp thừa nhận, họ đã thất bại trong việc biến Công giáo thành công cụ cho chính quyền Cộng sản”.

Từ lâu, dân Việt đã biết rõ Lê Trung Khoa là kẻ lập ra và điều hành trang mạng Thoibao.de, từng bị một người Mỹ gốc Việt là Derek Phạm đã công bố video clip nhan đề “Lê Trung Khoa, Thoibao.de bị chỉ đích danh là “lều báo” chuyên thêm thắt, xuyên tạc”. Trong video trả lời phỏng vấn của Derek Phạm, ông Hery Nguyễn thẳng thắn nhận xét: “Lê Trung Khoa cùng Thoibao.de là hình thức khốn nạn của truyền thông” và Hery Nguyễn khuyến cáo “Các bạn nên tỉnh táo đừng bao giờ nghe Lê Trung Khoa nói về tình hình chính trị của Việt Nam”. Lê Trung Khoa , Thoibao.de là như vậy, nên không có gì lạ khi Thoibao.de đưa ra phát ngôn hàm hồ, ngu dốt về lịch sử, văn hóa và non kém về kiến thức thực tế khi cho rằng Cộng sản đã “lùi bước”, đến tận Vatican để thỏa thuận cho đặt đại diện của Tòa thánh tại Việt Nam.

Phải thấy rõ điều này: Chủ tịch nước Võ Văn Thưởng và đoàn đại biểu cấp cao Việt Nam thăm một số nước châu Âu, trong đó có Tòa thánh Vatican là theo lời mời của các nguyên thủ quốc gia này. Không phải Việt Nam chủ động đến Vatican để “tiến tới đặt quan hệ ngoại giao với Tòa thánh” mà phải hiểu rằng Việt Nam và Vatican đạt được thỏa thuận về Quy chế của Đại diện Thường trú Tòa thánh Vatican và Văn phòng Đại diện Thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam, là kết quả của một quá trình bền bỉ thể hiện thiện chí của cả hai bên. Về phía Việt Nam không chỉ thể hiện thiện chí mà đây còn thể hiện sự nhất quán đường lối đối ngoại của Đảng, đa phương hóa, đa dạng hóa trong quan hệ quốc tế, sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cậy và là thành viên có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Đến nay Việt Nam đã thiết lập ngoại giao với 192 trong 200 quốc gia. Trong đó quan hệ Đối tác Toàn diện với 13 quốc gia; Đối tác Chiến lược 13 quốc gia và đối tác Chiến lược toàn diện với 4 quốc gia. Việt Nam xác định quan hệ đối ngoại qua tiêu chí “Đối tác” và “Đối tượng”: “Những ai tôn trọng độc lập chủ quyền, thiết lập và mở rộng quan hệ hữu nghị và hợp tác bình đẳng cùng có lợi với Việt Nam đều là đối tác; Bất kể lực lượng nào có âm mưu và hành động chống phá mục tiêu cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều là đối tượng đấu tranh của Việt Nam”. Quan hệ giữa Việt Nam và Vatican cũng tuân theo tiêu chí “Đối tác và “Đối tượng” và có những bước đi thích hợp, phù hợp với lộ trình và lợi ích quốc gia. Việc Chính phủ Việt Nam và Tòa thánh Vatican ký kết Thỏa thuận nêu trên được cho là một bước tiến rất quan trọng trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước.

Những luận điệu xuyên tạc và hết sức phản động trong bài viết như:“Đảng Cộng sản vẫn luôn nhằm vào Công giáo và Phật giáo. Hoặc là Cộng sản phải kiểm soát tôn giáo , hoặc là cấm tôn giáo hoạt động”. “Nói về Phật giáo thì xem như chính quyền cộng sản đã điều khiển được theo ý họ. Các chùa công cụ cho Cộng sản lấy khẩu hiệu “Đạo pháp – Dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” để hành động”…. “Thực chất, câu khẩu hiệu này đã khẳng định Phật giáo Việt nam là công cụ cho Đảng Cộng sản”. “Với Công giáo thì chính quyền Cộng sản đã đối đầu với Công giáo bao năm qua. Đảng Cộng sản vẫn luôn nỗ lực kiểm soát nhưng bất thành … người công giáo và hàng giáo phẩm chỉ vâng lệnh bề trên, tức là, họ hướng về Tòa thánh Vatican, chứ không chịu hướng về Đảng Cộng sản”…cho thấy  mức độ phản động, dối trá của Lê Trung Khoa và khuyến cáo “Các bạn nên tỉnh táo đừng bao giờ nghe Lê Trung Khoa nói về tình hình chính trị của Việt Nam” của Hery Nguyễn là đúng.

Thực tế khách quan về hoạt động tôn giáo và tự do tôn giáo ở Việt Nam là sự bác bỏ thuyết phục nhất đối với những thông tin sai sự thật và luận điệu xuyên tạc của các thế lực cơ hội, thù địch: Việt Nam là quốc gia đa dân tộc, đa tôn giáo. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo, với khoảng 26,5 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước, hơn 54.000 chứ sắc, 135.000 chức việc và khoảng 30.000 cơ sở thờ tự. Trong đó Công giáo là tôn giáo có số lượng tín đồ đông thứ hai sau Phật giáo (khoảng 7 triệu tín đồ, chiếm 6,6 % dân số). Nhà nước bảo đảm và tạo điều kiện cho các tổ chức tôn giáo được thành lập cơ sở đào tạo tôn giáo, mở lớp bồi dưỡng về tôn giáo. Đến nay cả nước có 62 cơ sở đào tạo tôn giáo, trong đó một số cơ sở được phép đào tạo trình độ cao thạc sĩ, tiến sĩ. Hoạt động xuất bản kinh sách và xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm phục vụ yêu cầu hoạt động của các tôn giáo. Có thể nói rằng, chưa bao giờ đời sống tôn giáo ở Việt Nam lại phát triển mạnh mẽ và phong phú như hiện nay. Nhiều hoạt động tôn giáo, tín ngưỡng diễn ra với quy mô ngày càng lớn, thu hút đông đảo tín đồ và người dân tham gia. Lễ Giáng sinh không còn là ngày lễ của riêng người Công giáo mà là của nhiều người dân không theo tôn giáo nào hoặc thuộc tôn giáo khác. Các hoạt động tôn giáo đã đáp ứng nhu cầu tín ngưỡng, tôn giáo của đông đảo tín đồ và quần chúng nhân dân và có những đóng góp tích cực đối với đời sống xã hội. Nếu nói rằng:“Đảng Cộng sản vẫn luôn nhằm vào Công giáo và Phật giáo. Hoặc là Cộng sản phải kiểm soát tôn giáo, hoặc là cấm tôn giáo hoạt động” thì không thể có được đời sống tôn giáo, tín ngưỡng phong phú, đa dạng và số lượng tín đồ, chức sắc, chức việc như trên.



Một ý đồ thâm hiểm của Thoibao.de là chia rẽ các tôn giáo, nhất là Phật giáo và Công giáo, chia rẽ khối đại đoàn kết toàn dân tộc. Chúng coi “Phật giáo Việt Nam là công cụ cho Đảng Cộng sản” và “ xem như chính quyền cộng sản đã điều khiển được theo ý họ”. Vì thế Phật giáo luôn được Cộng sản ưu ái, còn “Với Công giáo thì chính quyền Cộng sản đã đối đầu với Công giáo bao năm qua”. Công giáo bị ghẻ lạnh, cấm đoán và “Đảng Cộng sản vẫn luôn nỗ lực kiểm soát nhưng bất thành”. Thực tế các tôn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật. Nhà nước bảo đảm sự đa dạng, hòa hợp và bình đẳng tôn giáo và không phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi người dân hoàn toàn tự do lựa chọn theo hoặc không theo tôn giáo nào. Điều này được thể hiện rất rõ trong Hiến pháp và Pháp luật Việt Nam cũng như trong thực tế đời sống xã hội.

Tại cuộc gặp ngày 27/7/2023 Hồng y Paronlin khẳng định: “Giáo hội Công giáo Việt Nam ngày càng có vai trò quan trọng đối với Giáo hội Công giáo nói chung, Tòa thánh Vatican luôn khuyến khích giáo dân và chức sắc Công giáo tại Việt Nam thực hiện đường hướng “đồng hành cùng dân tộc”, “người giáo dân tốt cũng là người công dân tốt”, đóng góp tích cực vào sự nghiệp phát triển của đất nước”. Những đánh giá khách quan, tích cực về tình hình Công giáo ở Việt Nam từ phía Tòa thánh Vatican trên đây, cũng là bằng chứng phản bác lại các luận điệu xuyên tạc về tự do tôn giáo, bất bình đẳng giữa các tôn giáo, kiểm soát tôn giáo … của Thoibao.de.

 Phải chăng quan hệ giwuax Việt Nam và Vatican đạt tiến bộ, Tòa thánh và giáo dân phấn khởi, ghi nhận nỗ lực đôi bên khiến những kẻ chuyên lợi dụng chiêu bài tôn giáo chống phá Việt Nam như Thoibao.de tối mắt, tối mũi, hằn học mà nói quàng?

Thứ Ba, 1 tháng 8, 2023

Các quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận “vẫn còn là giấc mơ xa vời đối với dân tộc Việt Nam”?

 


Những ngày gần đây trên trang Facebook của Việt Tân đăng tải nội dung: “Ông Nguyễn Ái Quốc (Hồ Chí Minh) đã phát biểu trong Đại hội 18 của Đảng xã hội Pháp tại Tours năm 1920: “Chúng tôi không có quyền tự do báo chí và tự do ngôn luận, ngay cả quyền tự do hội họp cũng không có”… Dưới chế độ cộng sản hiện nay, các quyền này vẫn còn là giấc mơ xa vời đối với dân tộc Việt Nam”.

Trước hết phải khẳng định rằng, tự do ngôn luận, tự do báo chí là những quyền cơ bản của con người đã được Việt Nam cam kết thực hiện theo những nguyên tắc chung của Hiến chương Liên hợp quốc và Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền. Tuy nhiên, khoản 3 Điều 19 Tuyên ngôn quốc tế về nhân quyền quy định: Việc thực hiện những quyền tự do báo chí, tự do ngôn luận luôn kèm theo những nghĩa vụ và trách nhiệm đặc biệt…; phải tôn trọng các quyền hoặc uy tín của người khác, bảo vệ an ninh quốc gia hoặc trật tự công cộng hoặc đạo đức của xã hội…; ai cũng phải chịu những giới hạn do luật pháp đặt ra nhằm bảo đảm những quyền tự do của người khác cũng được thừa nhận và tôn trọng.

Như vậy, tuy được quốc tế công nhận nhưng quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí không phải là quyền tự do vô hạn. Dù trong bất kỳ xã hội nào nó cũng chỉ mang tính tương đối, phải tự do trong khuôn khổ của pháp luật và phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thể ở mỗi thời kỳ nhất định. Không có quốc gia nào cho phép tự do báo chí, tự do ngôn luận đứng ngoài luật pháp và xâm hại đến an ninh quốc gia, xâm hại đến lợi ích quốc gia – dân tộc. Mọi quyền tự do, trong đó có tự do ngôn luận, tự do báo chí đều phải có giới hạn nhất định.

Ở một khía cạnh khác, hợp tác quốc tế về báo chí ngày càng phát triển theo hướng hợp tác đa quốc gia và đa lĩnh vực. Tính đến năm 2022, Việt Nam có hơn 800 cơ quan báo chí; khoảng hơn 41.000 nhân sự đang tham gia hoạt động trong lĩnh vực báo chí; cả nước hiện có hơn 17.000 thẻ nhà báo đã được cấp. Cùng với đó, gần 40 hãng truyền thông quốc tế đã có mặt tại Việt Nam, trong đó có nhiều hãng lớn như CNN, Reuters, AP, AFP, Kyodo, Hãng thông tấn Asia (Hàn Quốc), Nhật báo kinh tế Aju (Hàn Quốc) và Hãng thông tấn Rossiya Segodnya (Nga)… Các cơ quan truyền thông quốc tế như CNN, TV5, NHK, DW, Australia Network, KBS, Bloomberg và hầu hết kênh truyền thông lớn thế giới đều dễ dàng đến được với công chúng Việt Nam thông qua nhiều nền tảng chính thức, chính quy, mà không có bất kỳ rào cản công nghệ hay pháp lý nào. Các nhà báo quốc tế được Chính phủ Việt Nam tạo điều kiện thuận lợi để tác nghiệp…

Ngược lại dòng lịch sử, ngay sau khi thành lập nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, bản Hiến pháp đầu tiên được Quốc hội thông qua ngày 9/11/1946 đã hiến định tại Điều thứ 10: “Công dân Việt Nam có quyền: Tự do ngôn luận; tự do xuất bản; tự do tổ chức và hội họp; tự do tín ngưỡng; tự do cư trú, đi lại trong nước và ra nước ngoài”. Những quyền cơ bản này đã được hiến định xuyên suốt trong các bản hiến pháp của Việt Nam và tiếp tục được hiến định tại Điều 25 Hiến pháp năm 2013 (bản Hiến pháp mới nhất hiện nay): “Công dân có quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, tiếp cận thông tin, hội họp, lập hội, biểu tình. Việc thực hiện các quyền này do pháp luật quy định”. Để bảo đảm quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí ngày càng được hiện diện trong thực tiễn cuộc sống, năm 2016, Quốc hội Việt Nam đã ban hành Luật Tiếp cận thông tin và Luật Báo chí. Trong đó, Điều 3 Luật Tiếp cận thông tin quy định: “Mọi công dân đều bình đẳng, không bị phân biệt đối xử trong việc thực hiện quyền tiếp cận thông tin; Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để người khuyết tật, người sinh sống ở khu vực biên giới, hải đảo, miền núi, vùng có điều kiện kinh tế-xã hội đặc biệt khó khăn thực hiện quyền tiếp cận thông tin”. Thêm nữa, Điều 11 Luật Báo chí năm 2016 quy định cụ thể về quyền tự do ngôn luận trên báo chí như sau: “Công dân được phát biểu ý kiến về tình hình đất nước và thế giới; tham gia ý kiến xây dựng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước…”. Đặc biệt, Điều 13 luật này nêu rõ: “Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi để công dân thực hiện quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí và để báo chí phát huy đúng vai trò của mình…; báo chí không bị kiểm duyệt trước khi in, truyền dẫn và phát sóng”.

Qua đây có thể dễ dàng nhận thấy, về mặt pháp lý, quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và quyền tiếp cận thông tin của công dân ở Việt Nam đã được quy định toàn diện, đầy đủ, với những nội dung cụ thể, dễ hiểu, dễ áp dụng, dễ thực hiện trong cuộc sống.

Hiện nay, Internet và mạng xã hội đã trở thành công cụ rất quen thuộc, là “một phần tất yếu” trong cuộc sống của mọi tổ chức và cá nhân, nhất là trước sự phát triển mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư. Việt Nam nằm trong top 20 nước có số người sử dụng Internet cao nhất thế giới với 68,7% dân số sử dụng, cao hơn mức trung bình của thế giới là 51,4%. Người dân Việt Nam có thể dễ dàng đăng tải, chia sẻ thông tin, hình ảnh, clip, bày tỏ quan điểm, ý kiến cá nhân của mình về mọi vấn đề của đời sống trên các nền tảng mạng xã hội. Phát triển song hành với Internet và mạng xã hội là phát triển Chính phủ điện tử, được Liên hợp quốc đánh giá liên tiếp từ năm 2014 đến nay, Việt Nam đều tăng hạng. Hiện, Việt Nam xếp thứ 86/193 quốc gia trên thế giới về chuyển đổi số. Những tiện ích của Internet nhanh chóng được ứng dụng trong thực tiễn, nhằm bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí của mọi tổ chức, cá nhân. Mỗi người dân Việt Nam ngày càng nhận thức đúng đắn về quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí, từ đó nêu cao ý thức trách nhiệm khi tham gia mạng xã hội, vừa bảo đảm quyền tự do của mình không vượt quá khuôn khổ của pháp luật. Như vây: Người dân Việt Nam đã hiện thực hóa được “giấc mơ” của Chủ tịch Hồ Chí Minh về quyền tự do ngôn luận và tự do báo chí, không như “giấc mơ đen tối” của Việt Tân.

 

Thứ Sáu, 28 tháng 7, 2023

Việt Nam có “chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự”?

 


 “NPR dẫn lời các chuyên gia nhân quyền nói các vụ bắt giữ là một phần của chiến dịch đàn áp các nhóm xã hội dân sự trong những năm gần đây của Đảng Cộng sản Việt Nam” là sự xuyên tạc, vu khống của những kẻ chống phá, làm cho người đọc hiểu sai bản chất các vụ án, vụ việc trong thời gian qua.

Ở Việt Nam, mọi cá nhân, hội, tổ chức phi chính phủ đều được bảo đảm hoạt động bình thường theo đúng quy định, đồng thời tuân thủ và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hoạt động của mình. Chỉ những người vi phạm pháp luật, những người phạm tội mới bị bắt, giam giữ và điều tra, xét xử. Không có việc Việt Nam “giam giữ tùy tiện các nhà bảo vệ môi trường” hay bắt giữ những người “bất đồng chính kiến” như thông tin của các trang mạng xã hội. Cao ủy Nhân quyền Liên hợp quốc, Bộ Ngoại giao Hoa Kỳ luôn tố cáo Việt Nam “vi phạm nhân quyền, bắt bớ, giam cầm tùy tiện, tuyên án nặng đối với các nhà báo, bloggers, Facebookers, các nhà hoạt động xã hội, lãnh đạo của các tổ chức xã hội dân sự”. Vậy ở Mỹ thì sao? Mỹ có vi phạm nhân quyền không? Có bắt người tùy tiện không? Mỹ có quyền gì để phán xét các quốc gia vi phạm nhân quyền ?

Trả lời các câu hỏi này, tôi xin nêu nội dung trả lời của Ông Ben Swanton, đồng Giám đốc Dự án 88 (Project88) khi BBC hỏi: Vì sao bắt và giam giữ tùy tiện vẫn tiếp diễn ở Việt Nam? Các tổ chức quốc tế có liên quan có thể làm gì để buộc Việt Nam phải chịu trách nhiệm về những việc này? Ông Ben Swanton đã trả lời rằng: “Hành động quan trọng nhất mà các nước phương Tây vốn tự hào là có chính phủ dân chủ và pháp quyền có thể làm để giải quyết việc vi phạm nhân quyền ở Việt Nam là bản thân họ cũng phải ngưng vi phạm nhân quyền. Thật đạo đức giả khi các chính phủ này chỉ trích Việt Nam giam giữ tùy tiện ông Đặng Đình Bách và những nhà hoạt động khác trong khi cũng chính họ, đặc biệt là Mỹ, cũng giam giữ người trái pháp luật. Bắt đầu từ 20 năm trước, khi George W. Bush tuyên bố một ‘cuộc chiến khủng bố’. Hoa Kỳ đã giam giữ một cách có hệ thống và tùy tiện hàng trăm, nếu không nói là hàng ngàn người Hồi giáo, đồng thời bắt cóc và đưa người tới các nước vốn nổi tiếng về tra tấn. Ngày nay, Hoa Kỳ tiếp tục giam giữ người mà không có thủ tục tố tụng tại Vịnh Guantánamo Bay. Chừng nào Mỹ tiếp tục bắt giữ người một cách phi pháp thì họ sẽ còn thiếu thẩm quyền đạo đức và tính hợp pháp quốc tế cần thiết để lên án việc bắt giữ tùy tiện ở nước ngoài. Điều này cũng đúng với chính phủ Úc – nơi đang thực hành giam giữ tùy tiện và vô thời hạn người tỵ nạn và người xin tỵ nạn” (Nội dung này được tác giả Mỹ Hằng nêu trong bài “Vụ Đặng Đình Bách: LHQ nói ‘Việt Nam vi phạm luật pháp quốc tế về giam giữ tùy tiện’, đăng trên BBC News Tiếng Việt, ngày 24/5/2023).

Tại sao chính phủ Hoa Kỳ luôn cho mình cái quyền được phán xét, tố cáo các quốc gia khác vi phạm nhân quyền, cũng như can thiệp vào công việc nội bộ, được ra lệnh cấm vận, trừng phạt các quốc gia khác ? Hiểu thêm về vấn đề này, tôi xin nêu ý kiến của Ông Ron Paul, cựu ứng viên Tổng thống Mỹ trong bài viết về “Sự sụp đổ của đồng đô la đã bắt đầu”, mới đây đăng trên ấn phẩm Info Brics: “Những gì đang xảy ra sẽ không làm ai ngạc nhiên, bởi vì thế giới đã quá mệt mỏi với chính sách can thiệp mà chính quyền Mỹ đã tiến hành trong suốt thời gian qua. Chúng ta là một chính phủ theo chủ nghĩa can thiệp. Chúng ta can thiệp vào tự do cá nhân, chúng ta can thiệp về tự do kinh tế. Chúng ta can thiệp vào công việc nội bộ của tất cả các quốc gia khác trên thế giới. Chúng ta luôn luôn bảo họ phải làm gì, chúng ta áp dụng các biện pháp hà khắc để trừng phạt những quốc gia khác. Và sau đó thật ngạc nhiên với cách nước Mỹ đưa ra phản ứng”.

Thứ Năm, 27 tháng 7, 2023

Phil Robertson nhân danh “theo dõi nhân quyền” bao biện cho kẻ vi phạm pháp luật

 


Ngay sau khi phiên phúc thẩm xử Trương Văn Dũng về tội “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam” kết thúc, trong bài “HRW lên tiếng việc ông Trương Văn Dũng bị y án 6 năm tù” đăng phát trên VOA tiếng Việt, ông Phil Robertson, Phó giám đốc Ban châu Á của cái gọi là tổ chức Theo dõi nhân quyền (HRW – Human Rights Watch) ở Hoa Kỳ đã nói rằng: “Không có gì ngạc nhiên khi ông Trương Văn Dũng không được giảm án vì các phiên tòa phúc thẩm của Việt Nam đã trở thành một trò đùa buồn cười, chỉ nhằm mục đích gieo hy vọng hão huyền và đánh lừa cộng đồng quốc tế…”. Ngoài ra, trên một số trang web phản động ở nước ngoài, ông Phil Robertson còn có những phát biểu bộc lộ rõ quan điểm bênh vực, che chắn, đòi trả tự do cho Trương Văn Dũng. Trong khi đó trên thực tế, hành vi lợi dụng quyền tự do ngôn luận để tuyên truyền chống phá Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam của Trương Văn Dũng là rất rõ ràng.

Kết quả điều tra của cơ quan chức năng cho thấy, từ tháng 10-2015 đến tháng 5-2022, thông qua trả lời chương trình “Từ cánh đồng mây” tại một file video và một file audio, Trương Văn Dũng có hành vi tuyên truyền, xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân; tuyên truyền những luận điệu “chiến tranh tâm lý,” phao tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân thông qua các bài phỏng vấn, video, clip đăng tải trên mạng xã hội.

Bị cáo còn có hành vi tàng trữ tài liệu dạng sách với tiêu đề “Những mảnh đời sau song sắt” và 11 tài liệu dạng sách với tiêu đề “Chính trị bình dân” có mục đích thông tin xuyên tạc, phỉ báng chính quyền nhân dân, tuyên truyền thông tin bịa đặt, gây hoang mang trong nhân dân…Bên cạnh đó, bị cáo còn có 31 băngrôn, biểu ngữ được in trên vải bạt và 11 tài liệu được in trên giấy với nhiều kích thước khác nhau có nội dung chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Mọi tình tiết liên quan đến vụ án đã rõ như ban ngày, thế nhưng trong con mắt của ông Robertson, Trương Văn Dũng chỉ là “nhà hoạt động chính trị”; “thực hiện quyền tự do ngôn luận”; “thực hành các quyền tự do biểu đạt, lập hội và nhóm họp ôn hòa” …”; “đã dũng cảm đứng lên đấu tranh chống suy thoái môi trường, chống chiếm đoạt đất đai và tham nhũng, đáng được tuyên dương chứ không phải bị bỏ tù”… Những phát biểu của ông Robertson cho thấy rõ sự hồ đồ, xuyên tạc, cái nhìn thiển cận, chủ quan, phiến diện về Công ước quốc tế và pháp luật Việt Nam.

Điều 19 Tuyên ngôn Quốc tế về nhân quyền khẳng định: “Mọi người đều có quyền tự do ngôn luận và bày tỏ quan điểm… và bày tỏ qua mọi phương tiện truyền thông”. Tuy nhiên, tại Điều 29 của chính văn bản này cũng khẳng định: “Trong việc hành xử nhân quyền và thụ hưởng tự do, mọi người phải chịu những hạn chế do luật định… nhằm thỏa mãn những đòi hỏi chính đáng về luân lý, trật tự công cộng và nền an sinh chung”. Nguyên Tổng thư ký Liên hợp quốc Ban Ki-moon cũng từng khẳng định rõ rằng: “Quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí… chỉ được bảo vệ khi nó được dùng vào các mục đích công lý và phục vụ cộng đồng”. Không chỉ ở Việt Nam mà mọi quốc gia trên thế giới đều tôn trọng quyền tự do dân chủ của công dân trong khuôn khổ pháp luật. Ví như Điều 18 Hiến pháp Cộng hòa Liên bang Đức ghi rõ: “Ai lợi dụng các quyền tự do ngôn luận, đặc biệt là tự do báo chí, tự do tuyên truyền… làm công cụ chống lại trật tự của xã hội tự do dân chủ sẽ bị tước bỏ quyền công dân”…

Rõ ràng hành vi của Trương Văn Dũng vừa trái với Công ước quốc tế, vừa vi phạm pháp luật Việt Nam. Cũng như nhiều quốc gia khác trên thế giới, Việt Nam công nhận, bảo đảm việc thực thi quyền tự do ngôn luận, tự do hội họp, lập hội của công dân nhưng phải theo quy định của pháp luật. Những hành vi lợi dụng các quyền này mà vi phạm pháp luật thì không chỉ Việt Nam mà bất kỳ quốc gia nào trên thế giới cũng đều không thể chấp nhận.

Vậy tại sao ông Phil Robertson lại bảo vệ Trương Văn Dũng? Ông Phil Robertson đang toan tính điều gì sau sự việc này? Dư luận chẳng lạ gì tâm địa của ông và cái gọi là tổ chức Theo dõi nhân quyền. Lâu nay, tổ chức này ở Hoa Kỳ và một số trang mạng thiếu thiện chí với Việt Nam ở nước ngoài thường lợi dụng những vụ việc tương tự để tuyên truyền bóp méo, xuyên tạc chống phá Việt Nam. Cụ thể hơn, họ vẫn mưu toan gây sức ép đòi Việt Nam thay đổi những nội dung trong Bộ luật Hình sự quy định về tội danh “tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”… Những lời nói và việc làm của ông Phil Robertson đã cho thấy rõ ông và HRW đang cố tình đội lốt “theo dõi nhân quyền”, coi tự do, dân chủ, nhân quyền là tấm bình phong để tung hô, cổ xúy cho những hành động sai trái, vi phạm pháp luật, can thiệp thô bạo vào công việc nội bộ của Việt Nam.