Thứ Ba, 4 tháng 7, 2023

Xuất khẩu lao động là một phần của chính sách bảo đảm quyền có việc làm của người dân


Quyền có việc làm, đảm  bảo thu nhập trên cơ sở   quyền tự quyết, tự chọn lựa của người dân là quyền lợi chính đáng, Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo. Trong bối cảnh Việt Nam có ưu thế dồi dào về nguồn nhân lực thì giải pháp thúc đẩy xuất khẩu lao động, tăng thu nhập, tăng khả năng học hỏi kinh nghiệm là chủ trương đúng đắn. Tuy nhiên, qua con mắt của những kẻ thiếu thiện chí, cực đoan thì họ bóp méo, xuyên tạc với ý đồ đen tối. Chẳng hạn như bài “Xuất khẩu lao động: nguồn thu nhập lớn của Đảng” tung lên mạng ngày 12/5, Việt Tân không chỉ phơi bày sự dốt nát, xuyên tạc một chủ trương quan trọng của nhà nước Việt Nam, mà còn trắng trợn vu khống Đảng CSVN trục lợi trên mồ hôi, công sức người dân tham gia xuất khẩu lao động (XKLD).



Cái dốt thứ nhất,Việt Tân không biết điều ai cũng có thể biết: XKLĐ là một hình thức hoạt động mua – bán hàng hóa sức lao động của trong nước cho những người sử dụng lao động nước ngoài, một trong những hình thức cung ứng lao động phổ biến hiện nay trên phạm vi toàn cầu. Là một quốc gia tham gia sâu rộng, tích cực, toàn diện vào quá trình hội nhập quốc tế như Việt Nam, đang trong giai đoạn “dân số vàng”, có nguồn lao động dồi dào, việc tham gia cung ứng lao động cho các thị trường có nhu cầu trên thế giới là điều bình thường và cần thiết. Ngoài mang lại lợi ích cho bên mua (bên sử dụng lao động), XKLĐ mang lại những lợi ích thiết thực cho cá nhân người lao động và đất nước. Nói cách khác, XKLĐ là “ích nước lợi nhà”.

Với cá nhân người lao động, ngoài việc làm, có thu nhập, quá trình tham gia xuất khẩu lao động cũng là quá trình tiếp thu, học hỏi, rèn luyện nâng cao kỹ năng, ngoại ngữ, giúp họ có điều kiện tiếp nhận những công việc đòi hỏi yêu cầu chuyên môn cao hơn, nhưng theo đó, thu nhập cũng nhiều hơn… Số liệu cho thấy, XKLĐ Việt Nam tới các thị trường nước ngoài những năm gần đây mang về lượng ngoại tệ khoảng 3,5 tỷ USD/năm, góp phần quan trọng vào cải thiện, nâng cao mức sống người dân. Nhờ nguồn thu này, nhiều làng quê Việt Nam đã có những thay đổi đáng kể và tích cực.

Về phía quốc gia, cùng những lợi ích có ý nghĩa quan trọng về đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội, XKLĐ góp phần giải quyết việc làm cho người dân – một trong những thách thức lớn với các nước đang phát triển. Nó cũng là giải pháp để quốc gia thực hiện mục tiêu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nhờ những kiến thức, kỹ năng, phong cách lao động mà người lao động tiếp thụ được trong quá trình tham gia XKLĐ, nhất là những người làm việc trong các ngành công nghệ cao, như công nghiệp điện tử, công nghiệp ô tô…

Vì ý nghĩa tích cực đó, XKLĐ là giải pháp được nhiều quốc gia thực hiện. Trong khu vực Đông Nam Á, từ những năm 1970, Philippines đã xác định XKLĐ như một chiến lược kinh tế quan trọng, thu về hàng chục tỷ USD. Tại Philippines,  người tham gia XKLĐ được coi là “người hùng” và được hưởng các chính sách ưu đãi của Chính phủ, như miễn thuế giá trị gia tăng, con cái được giảm học phí và bảo hiểm y tế, không phải xếp hàng khi xuất nhập cảnh…Với chính sách bài bản, lao động Philippines giờ đây không chỉ là những công nhân phổ thông, làm các việc giản đơn, mà đang có xu hướng thành những lao động chuyên nghiệp có tay nghề cao. Thậm chí, người Philippines hiện “thống lĩnh” một số nghề đòi hỏi sự tinh tế, chuyên môn, kỹ năng đặc biệt như nghề bếp trong các khách sạn cao cấp, du thuyền sang trọng… – điều đó buộc thế giới phải thay đổi cách nhìn về những lao động Philippines và nước ngoài.

Cái dốt thứ hai, Việt Tân ngộ nhận XKLĐ chỉ là đưa lao động đi làm việc ở nước ngoài. Trong thực tế, khái niệm này cần hiểu toàn diện hơn. XKLĐ, cùng với đưa lao động làm việc ở các thị trường ngoài nước, còn có hình thức “xuất khẩu lao động tại chỗ” (còn gọi là “xuất khẩu lao động nội biên”): tức người lao động trong nước làm việc cho các doanh nghiệp FDI, các tổ chức quốc tế qua hỗ trợ của nền tảng Internet.

Theo nghĩa đó, ngoài hàng trăm nghìn lao động Việt Nam đang làm việc cho các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam, ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp lớn của Việt Nam như các doanh nghiệp phần mềm của FPT tại Nhật, Séc, Đan Mạch, Thái Lan; như hãng xe VinFast thuộc tập đoàn VinGroup của tỷ phú Phạm Nhật Vượng tại thị trường Mỹ; như các doanh nghiệp của Viettel cung cấp dịch vụ viễn thông tại nhiều quốc gia châu Á, Phi, Mỹ La Tinh; như các nhà máy của Công ty Vinamilk đầu tư xây dựng tại Campuchia, New Zealand, Mỹ…; như Trang trại chăn nuôi bò sữa tập trung công nghệ cao của Tập đoàn TH tại huyện Volokolamsk, tỉnh Moscow…, đã, đang và sẽ thu hút, sử dụng hàng chục nghìn lao động sở tại. Như vậy, Việt Nam cũng là “nhà nhập khẩu” lao động nhiều nước (dù quy mô còn nhỏ), trong đó có cả lao động ở các cường quốc về kinh tế, công nghệ và kỹ thuật. Cái khác là, thay vì làm việc tại Việt Nam, thì các doanh nghiệp Việt Nam thuê họ làm việc tại quê hương họ.

Như vậy, Việt Nam chủ trương mở rộng thị trường XKLD hiện nay hoàn toàn là việc làm bình thường, mang lại lợi ích kép “ích nước lợi nhà” (tất nhiên, cần khắc phục những tiêu cực trong quá trình thực hiện chủ trương này). Thế nên, việc Việt Tân và VOA tiếng Việt la hét om sòm “Xuất khẩu lao động: nguồn thu nhập lớn của Đảng” không chỉ xuyên tạc, mà còn là sự vu cáo trơ trẽn.

 


Thứ Bảy, 1 tháng 7, 2023

Việt Nam không ngừng bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân

 


Bảo vệ và thúc đẩy các quyền cơ bản của người dân là chính sách nhất quán của Đảng, Nhà nước Việt Nam. Những nỗ lực, thành tựu của Việt Nam trong việc không ngừng bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Thế nhưng đây đó vẫn có những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo, phản ảnh không đúng về nhân quyền tại Việt Nam. Nhưng dù bằng chiêu trò gì chăng nữa, các thế lực thù địch, phản động, cơ hội chính trị cũng không thể phủ nhận được thực tế bảo đảm và thúc đẩy quyền con người thuộc bản chất của chế độ ta.



Quan điểm nhất quán của Đảng, Nhà nước ta là quyền con người được bảo đảm và thực hiện bằng Hiến pháp và pháp luật. Ngay từ khi ra đời, Nhà nước Việt Nam đã đặt nhiệm vụ bảo đảm quyền con người vào vị trí trung tâm. Trong bản Tuyên ngôn Độc lập khai sinh nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã trịnh trọng tuyên bố: “Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập và sự thật đã thành một nước tự do, độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy”. Sau đó, các nội dung liên quan đến quyền con người được thể chế hóa thành những quyền hiến định trong bản Hiến pháp đầu tiên (Hiến pháp 1946). Qua 4 lần sửa đổi, bổ sung từ Hiến pháp 1946 đến Hiến pháp 1959, rồi Hiến pháp 1980, Hiến pháp 1992 và năm 2013, quyền con người ở Việt Nam đã thực sự trở thành quyền hiến định.

Trải qua bao biến cố, thăng trầm của lịch sử xuyên suốt tiến trình đấu tranh cách mạng, thực hiện công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc XHCN, Đảng và Nhà nước ta luôn hướng tới mục tiêu cao nhất là tôn trọng và bảo đảm các quyền con người. Đảng ta chủ trương xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa với bản chất là “Nhà nước của dân, do dân và vì dân”. Trong hệ thống các quan điểm cơ bản, chính sách nhất quán và khuôn khổ pháp luật, Đảng và Nhà nước Việt Nam luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước và bảo vệ Tổ quốc. Mọi chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam đều hướng đến mục tiêu cao nhất là vì con người, cho con người. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII khẳng định chủ nghĩa xã hội là chế độ tốt nhất bảo đảm quyền con người cho nhân dân Việt Nam. Quan điểm chỉ đạo của Đại hội là: “Khơi dậy mạnh mẽ tinh thần yêu nước, ý chí tự cường dân tộc, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc và khát vọng phát triển đất nước phồn vinh, hạnh phúc”.

Để thể chế hóa các quan điểm, đường lối, chủ trương của Đảng, Nhà nước Việt Nam đã từng bước hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật và cơ chế, coi đây là yếu tố then chốt trong bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Đảng và Nhà nước Việt Nam rất quan tâm đến đổi mới công tác xây dựng pháp luật và đẩy mạnh cải cách tư pháp. Công việc này được đặt trong mối quan hệ với chủ trương đẩy mạnh cải cách hành chính và nâng cao hiệu lực, hiệu quả của bộ máy nhà nước, hướng tới mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa. Những năm gần đây, Nhà nước Việt Nam đã ban hành mới và bổ sung, sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật liên quan bảo vệ và thúc đẩy quyền con người, trong đó bảo vệ quyền của nhóm các đối tượng dễ bị tổn thương được đặc biệt quan tâm. Hiến pháp và pháp luật Việt Nam bảo đảm đầy đủ các quyền cơ bản của con người trên tất cả các lĩnh vực chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa. Hệ thống pháp luật của Việt Nam đều phù hợp với thực tế đất nước và tương thích với các chuẩn mực quốc tế được quy định trong Tuyên ngôn Nhân quyền và các Công ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam tham gia.

Hệ thống luật pháp không ngừng hoàn thiện là tiền đề và điều kiện để Việt Nam từng bước thể chế hóa các quan điểm, đường lối của Đảng và Nhà nước về quyền con người, tạo hành lang pháp lý cho việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người. Những thành tựu về bảo đảm và cải thiện các quyền cơ bản của người dân Việt Nam được thể hiện rất rõ trong việc thực hiện các quyền về dân sự, chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Đặc biệt ở Việt Nam, các quyền bầu cử, ứng cử và tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội của người dân luôn được bảo đảm. Nhà nước Việt Nam chủ trương mở rộng dân chủ, thực hiện “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, dân giám sát, dân thụ hưởng”. Phương châm ấy không chỉ là mục tiêu mà còn là động lực nhằm khơi dậy sức mạnh và nguồn lực nhân dân trong việc đưa chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước vào cuộc sống. Công dân Việt Nam có quyền tham gia quản lý xã hội một cách trực tiếp hoặc thông qua người đại diện do mình tin tưởng bầu ra. Nhà nước Việt Nam không ngừng phấn đấu để bảo đảm và tạo điều kiện cho mọi công dân thực hiện quyền tham gia quản lý Nhà nước, quản lý xã hội. Việt Nam coi đây là một trong những nhóm quyền quan trọng nhất của công dân.

Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin của người dân theo Hiến pháp và pháp luật. Những năm gần đây, hoạt động của các phương tiện thông tin đại chúng ngày càng cởi mở, sôi động. Sự phát triển nhanh chóng, mạnh mẽ, đa dạng về loại hình, phong phú về nội dung và các phương tiện thông tin đại chúng ở Việt Nam là một minh chứng về tự do ngôn luận, tự do báo chí và tự do thông tin ở Việt Nam. Báo chí ở Việt Nam đã trở thành diễn đàn ngôn luận của các tổ chức xã hội, nhân dân, là công cụ quan trọng bảo vệ lợi ích của xã hội, các quyền tự do của nhân dân. Báo chí còn là lực lượng quan trọng trong công tác kiểm tra, giám sát việc thực thi chính sách và pháp luật của Nhà nước. Báo chí đóng vai trò quan trọng trong phát hiện, đưa ra ánh sáng nhiều vụ việc vi phạm pháp luật, góp phần không nhỏ vào cuộc đấu tranh phòng, chống tham nhũng, tiêu cực và các tệ nạn xã hội, xây dựng bộ máy công quyền trong sạch, vững mạnh.

Các quyền của người dân về tự do hội họp và lập hội được bảo đảm và quy định cụ thể trong Hiến pháp, Bộ luật Hình sự, Bộ luật Dân sự và nhiều văn bản pháp luật. Ngoài Đảng Cộng sản Việt Nam, ở Việt Nam còn có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, 5 đoàn thể bao gồm: Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam, Hội liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh Việt Nam và hàng trăm tổ chức nhân dân bao gồm các tổ chức xã hội, tổ chức xã hội nghề nghiệp với hàng chục triệu hội viên. Cùng với các tổ chức công đoàn cấp quốc gia, ở Việt Nam còn có hơn 6.000 tổ chức công đoàn cơ sở. Ngoài ra ở Việt Nam còn có hàng nghìn hiệp hội, câu lạc bộ… hoạt động trong mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Các tổ chức và hiệp hội hoạt động trên nguyên tắc tự nguyện, tự quản, độc lập và tuân thủ pháp luật… Thực tế đó chứng tỏ quyền tự do hội họp và lập hội của người dân được tôn trọng và bảo đảm.

Nhà nước Việt Nam nhìn nhận tín ngưỡng, tôn giáo là một nhu cầu tinh thần chính đáng của con người. Chính sách nhất quán của Nhà nước Việt Nam là tôn trọng và bảo đảm các quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Điều này được ghi rõ trong Hiến pháp và pháp luật của Việt Nam; được bảo đảm tôn trọng trên thực tế. Hiện nay, Việt Nam có 43 tổ chức thuộc 16 tôn giáo được công nhận và cấp đăng ký hoạt động với hơn 55 nghìn chức sắc, hơn 145 nghìn chức việc, hơn 29 nghìn cơ sở thờ tự; hoạt động đào tạo, bồi dưỡng chức sắc, nhà tu hành trong các tôn giáo luôn được quan tâm; 95% dân số có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo, trong đó có 26 triệu tín đồ, chiếm 27% dân số cả nước.  Việt Nam có đời sống sinh hoạt tôn giáo phong phú với hơn 8.000 lễ hội tín ngưỡng, tôn giáo hàng năm, thu hút sự tham gia đông đảo của các tín đồ và quần chúng nhân dân.  Nhà nước Việt Nam luôn tôn trọng và bảo vệ quyền của các tín đồ được tự do thờ cúng và thực hành tín ngưỡng, tôn giáo và chính sách này đã được thể chế hóa bằng pháp luật. Số chức sắc, nhà tu hành và những người hoạt động tôn giáo chuyên nghiệp không ngừng tăng qua từng năm nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu tâm linh của nhân dân. Các chức sắc tôn giáo cũng có quyền tham gia quản lý Nhà nước và xã hội, có quyền ứng cử vào Quốc hội và hội đồng nhân dân như mọi công dân khác. Các tôn giáo có quyền và được Nhà nước Việt Nam tạo điều kiện mở trường, cơ sở đào tạo chức sắc, xuất bản kinh sách, tham gia các hoạt động xã hội… Nhà nước Việt Nam đã và đang thực thi nhiều chính sách và biện pháp cụ thể để bảo đảm người dân được thụ hưởng đầy đủ các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có Luật Tín ngưỡng và Tôn giáo được Quốc hội thông qua vào tháng 11-2016. Nhà nước Việt Nam đặc biệt coi trọng chính sách dân tộc, bảo đảm quyền bình đẳng giữa các dân tộc, coi đó là một trong những nhân tố quyết định cho sự phát triển bền vững của đất nước. Chính sách này được thể hiện một cách toàn diện trên mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, được thể hiện trong đường lối, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Công dân Việt Nam không phân biệt dân tộc đều bình đẳng trước pháp luật, được hưởng các quyền và thực hiện nghĩa vụ công dân như nhau…

Trong khi kinh tế thế giới có nhiều bất định, lâm vào khủng hoảng và suy thoái do tác động bởi đại dịch COVID-19, nhưng bằng những giải pháp hữu hiệu, kinh tế Việt Nam vẫn giữ được ổn định và đạt được nhiều thành quả đáng khích lệ, tạo thế và lực cho đất nước phát triển nhanh và bền vững. Tăng trưởng kinh tế đã tạo ra những tiền đề quan trọng để Việt Nam giải quyết những vấn đề bức thiết về xã hội, thực hiện tốt hơn các mục tiêu công bằng xã hội, bảo đảm tốt hơn những giá trị quyền con người, quyền công dân. Công cuộc xóa đói, giảm nghèo được Đảng và Nhà nước Việt Nam hết sức quan tâm và đạt nhiều kết quả được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Đặc biệt Liên hợp quốc đánh giá: Việt Nam là một trong những quốc gia đi đầu trong việc thực hiện các Mục tiêu phát triển Thiên niên kỷ….

Việt Nam đã tham gia hầu hết các công ước quốc tế về quyền con người và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ được nêu trong các công ước mà mình đã tham gia, tuân thủ nghiêm túc các cam kết quốc tế về quyền con người. Tại các tổ chức và diễn đàn quốc tế, Việt Nam luôn được đánh giá cao về cách tiếp cận, ủng hộ đối thoại và hợp tác trong vấn đề quyền con người. Cộng đồng quốc tế đánh giá cao những thành tựu quan trọng trong bảo đảm các quyền cơ bản của con người mà Việt Nam đạt được và đã dành cho Việt Nam số phiếu ủng hộ cao nhất trong cuộc bầu chọn thành viên tham gia Hội đồng Nhân quyền nhiệm kỳ 2014-2016 và nhiệm kỳ 2023-2025. Thực tế đó đã khẳng định những cam kết và nỗ lực mạnh mẽ của Việt Nam về thúc đẩy và bảo vệ quyền con người đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận, tin tưởng và đánh giá cao.

Những thành tựu cơ bản trong bảo đảm và phát triển quyền con người ở Việt Nam nêu trên là kết quả từ chính sách nhất quán luôn đặt con người vào vị trí trung tâm của sự phát triển, thực hiện nghiêm túc các chuẩn mực và nghĩa vụ quốc tế. Những giọng điệu lạc lõng xuyên tạc, bóp méo phản ánh không đúng về tình hình nhân quyền tại Việt Nam của các thế lực thù địch, phản động là nhằm dụng ý xấu hòng phá hoại sự ổn định và kìm hãm sự phát triển của đất nước Việt Nam. Khi thấy vị thế của Việt Nam ở khu vực và thế giới ngày càng được nâng cao, họ tỏ ra tức tối và tìm cách xuyên tạc, nói xấu nhằm làm giảm uy tín, vai trò của Việt Nam. Thế nhưng “vải thưa không che nổi mắt thánh”, những ghi nhận, đánh giá của cộng đồng quốc tế và thực tiễn sinh động trên đất nước Việt Nam đã bác bỏ hoàn toàn các luận điệu xuyên tạc, bóp méo sự thật của các thế lực thù địch cùng một số tổ chức, cá nhân thiếu thiện chí đối với Việt Nam.

 

Thứ Tư, 28 tháng 6, 2023

Luận điệu nhằm phủ nhận nỗ lực bảo vệ quyền con người của Đảng, Chính phủ

 


Vừa qua, Thái Hạo – một kẻ từng là giáo viên bất mãn, chống đối gay gắt chế độ đăng trên trang Baotiengdan.com với tiêu đề: “Xa lạ”, trong đó lấy một vài vấn đề ít ỏi trong xã hội hiện nay để đặt ra những câu hỏi và có nhận định chưa khách quan, không đúng sự thật, có tính xuyên tạc đổ lỗi, lấy ý kiến vài cá nhân ít ỏi trong xã hội để đánh đồng nhận thức chung của nhiều người dân Việt Nam, tác giả cho rằng đa số Người Việt chúng ta hiện nay vẫn còn xa lạ với những điều tưởng như hiển nhiên và rất quen thuộc như: Quyền Con Người, quyền trẻ em, hôn nhân gia đình, tôn trọng nhau trong gia đình và các quan hệ, đối xử giữa vợ chồng, con cái với nhau…tuy nhiên ẩn sâu đằng sau đó là sự cố ý quy trách nhiệm cho lãnh đạo, người đứng đầu của một đất nước, một chế độ và những chính sách chưa hiệu quả, chưa phù hợp và vì thế mới dẫn đến nhận thức của người dân còn hạn hẹp như hiện nay.

Bài viết mở đầu rằng: “Tôi nhận thấy rằng, phần đông người Việt còn xa lạ với những điều hết sức thông thường, thử nêu vài thứ”… Thái Hạo đã nêu ra mấy vấn đề như: “Thứ nhất: Quên mất rằng con cái mình là Con Người. Người ta mặc nhiên rằng đó là vật sở hữu, là “của mình”, “thuộc về mình”, là “không biết gì”…Thứ hai: Quên mất rằng vợ là một đối tác trong một bản khế ước mang tên hôn nhân. Vợ không phải “của tao”, và tất nhiên chồng cũng không phải “của tôi”. Không ai có quyền sở hữu ai, và vì thế, không ai có quyền áp đặt ai, càng không có quyền “vợ tao tao đánh”…Thứ 3: Bảo vệ thân thể, danh dự và tự do cho mỗi cá nhân trong xã hội là trách nhiệm của chính quyền…Cuối cùng ông kết luận: “Tuy vậy, vẫn phải căn cứ trên lý thuyết này để đòi hỏi, ít ra thì cũng lột được chiếc mặt nạ của kẻ nắm quyền vô trách nhiệm””.

Như chúng ta biết, gia đình luôn được xem là “một tế bào” không thể thiếu của xã hội, là cá nôi hình thành và nuôi dưỡng nên những con người có nhân cách tốt đẹp, tài năng cống hiến cho đất nước. là cái nôi để giữ gìn và phát huy truyền thống văn hóa ứng xử tốt đẹp trong gia đình. Ở đó trẻ em được phát triển trong điều kiện tốt nhất từ vật chất đến tinh thần, con cái là gia tài lớn nhất của mỗi gia đình, nên các con được yêu thương, chăm lo và bảo vệ, đa phần là như vậy. Quan tâm đến vấn đề này nên chúng ta thường xuyên tổ chức các hoạt động như: tháng hành động quốc gia về phòng, chống bạo lực gia đình với chủ đề “Gia đình bình an – xã hội hạnh phúc”…

Ngày gia đình Việt Nam 28/6 hàng năm nhằm tôn vinh những giá trị tốt đẹp của gia đình, gìn giữ và phát huy những ý nghĩa văn hóa, tinh thần đậm nét truyền thống Việt Nam. Mỗi một gia đình sẽ có những cách khác nhau để tận hưởng ngày này được hạnh phúc, trọn vẹn nhất. Điều đặc biệt là mỗi một cá nhân đều sẽ cảm nhận được sự ấm áp, thân thuộc mỗi khi có dịp quây quần bên gia đình vào ngày này.

Mọi vấn đề xã hội xảy ra, ông ta đổ lỗi cho kẻ nắm quyền vô trách nhiệm, điều này thật quá nực cười! Như chúng ta biết, tại Nghị quyết số 27-NQ/TW Việt Nam đã và đang xây dựng nhà nước pháp quyền, của nhân dân và vì nhân dân. Hiến pháp năm 2013 và một số Luật đã luôn đề cao và vô cùng coi trọng vấn đề nhân quyền, quyền trẻ em, phụ nữ và tất cả những người yếu thế trong xã hội. Ngay trong phần Lời nói đầu của Công ước về quyền trẻ em năm 1989 đã nhắc lại khẳng định trong Tuyên ngôn thế giới về quyền con người mà Liên hợp quốc đã công bố rằng “trẻ em có quyền được chăm sóc và giúp đỡ đặc biệt… và tin tưởng rằng gia đình với tư cách là nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả các thành viên trong gia đình, đặc biệt là trẻ em cầm có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết để có thể đảm đương đầy đủ trách nhiệm của mình trong cộng đồng… và để phát triển đầy đủ và hài hoà nhân cách của mình, trẻ em cần được lớn lên trong môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông. Theo quy định của Điều 1 của Công ước thì trẻ em là người có độ tuổi dưới 18, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em đó có quy định độ tuổi sớm hơn. Lần đầu tiên, Công ước về quyền trẻ em đã khái quát được các khía cạnh của quyền trẻ em và xác định rõ nghĩa vụ của các quốc gia trong việc bảo đảm quyền của trẻ em và mỗi quan hệ giữa quyền trẻ em với quyền con người nói chung. Để thực thi Công ước, Điều 43 của Công ước quyền trẻ em năm 1989 quy định thành lập Uỷ ban về quyền trẻ em nhằm xem xét sự tiến bộ mà các quốc gia thành viên đạt được trong việc thực hiện các nghĩa vụ mà họ đã cam kết thông qua các báo cáo định kỳ. Đồng thời theo Điều 45, bên cạnh Uỷ ban về quyền trẻ em thì các cơ quan chuyên môn, UNICEF và các tổ chức khác thuộc Liên hợp quốc cũng có thẩm quyền giám sát, giúp đỡ các quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện Công ước. Tiếp theo Luật trẻ em năm 2016 đã quy định chi tiết rõ ràng về các vấn đề liên quan đến trẻ em.

 Nhìn chung, Quyền con người Việt Nam đã xây dựng được các thể chế và thiết chế bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm ngày càng tốt hơn các quyền chính trị, dân sự, các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa; quyền của nhóm thiểu số hoặc yếu thế, như người cao tuổi, phụ nữ, trẻ em, người khuyết tật, người dân tộc thiểu số, người có tín ngưỡng, tôn giáo. Vậy nên, xin thưa tác giả, đa phần chúng ta không còn xa lạ gì với những quyền, những nhu cầu phát triển tối thiểu cho trẻ em trong xã hội ngày nay nhé./.

 

Chủ Nhật, 25 tháng 6, 2023

Chiêu trò xuyên tạc quyền được giáo dục cho trẻ em ở Việt Nam


Giáo dục lâu nay vẫn là mục tiêu xuyên tạc, chống phá, bóp méo hòng kích động bất mãn, tiêu cực, bi quan, thậm chí nhìn nhận sai trái về ngành giáo dục và quyền được giáo dục ở Việt Nam. Chẳng hạn, trên mạng Vietnamthoibao vừa có bài viết “Vi Hiến: con cái công nhân ngoại tỉnh không được vào lớp 10 công lập tại thủ đô” của Trần Cảnh Chân, cho rằng: “Với việc không cho học sinh ngoại tỉnh học trường công lập, có thể thấy rõ rằng sở Giáo Dục và Đào Tạo Hà Nội đã vi Hiến và vi phạm pháp luật nhưng chủ tịch thành phố, các cơ quan chức năng lại tiếp tay cho hành động phạm pháp này. Chẳng những vi phạm pháp luật, mà với việc đối xử bất công trong giáo dục, nhà chức trách, là Đảng cộng sản Việt Nam còn đang khiến cho đất nước đi thụt lùi với văn minh loài người”, rồi Trần Cảnh Chân tiếp tục lu loa sai lệch rằng: “Muốn thu hút nhân tài nhưng lại đối xử bất bình đẳng với người nhập cư”.

Có thể thấy ngay, luận điệu “Vi Hiến”, “muốn thu hút nhân tài nhưng lại đối xử bất bình đẳng…” là sự vu cáo, kích động gây mâu thuẫn trong nhân dân. Bởi vì trên thực tế, trước hết các trường THPT công lập với nhiệm vụ chính của nó không phải để “thu hút” hay “đào tạo” nhân tài mà nhiệm vụ này chủ yếu là ở hệ thống các trường Chuyên. Thứ hai, các trường THPT công lập có ở tất cả các tỉnh, thành trên cả nước, chịu sự bổ nhiệm nhân sự cũng như hưởng ngân sách của địa phương nên việc chỉ tuyển những học sinh có hộ khẩu thường trú tại địa phương là hợp lý. Theo đại diện Sở GD&ĐT Hà Nội thì học sinh không đủ điều kiện về hộ khẩu có thể không tham gia dự thi để lấy kết quả xét tuyển vào các trường cấp 3 công lập tự chủ, cấp 3 ngoài công lập, hoặc xét tuyển vào các Trung tâm Giáo dục nghề nghiệp – Giáo dục thường xuyên… Theo một vị lãnh đạo TP Hà Nội cho biết: Trong thời gian tới, Hà Nội tiếp tục quan tâm đẩy mạnh rà soát quy hoạch mạng lưới trường lớp, xây dựng bổ sung nhiều trường cấp 3 công lập và ngoài công lập để đáp ứng nhu cầu học tập, đặc biệt là con em lao động ngoại tỉnh làm ăn, sinh sống ở Hà Nội.

Hơn nữa, tại Hà Nội còn có nhóm trường THPT do các trường Đại học có tiếng thành lập trực thuộc các trường này, có nhiệm vụ đào tạo học sinh THPT xuất sắc các lĩnh vực như toán, văn, lý, hóa, sinh học, ngoại ngữ… và không giới hạn tỉnh thành. Tại Hà Nội có thể kể đến những cái tên từ lâu nức tiếng trong giới học sinh giỏi miền Bắc như THPT Chuyên ngoại ngữ – Đại học Ngoại ngữ – Đại học Quốc gia Hà Nội; THPT Chuyên Sư phạm – Đại học Sư phạm Hà Nội; THPT Chuyên KHTN – Đại học Khoa học Tự nhiên – Đại học Quốc gia Hà Nội… Đây là nơi đào tạo lực lượng học sinh nòng cốt cho các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, quốc tế.

Bên cạnh đó, nhóm các trường nội trú cũng là lựa chọn của nhiều phụ huynh ngoại tỉnh trong thời gian gần đây khi muốn đưa con đến Hà Nội. Đặc thù của mô hình này việc học sinh học tập – sinh hoạt toàn thời gian trong khuôn viên trường, do đó không chỉ mang lại kiến thức mà còn cho các con cơ hội sống cùng tập thể, tự học cách chăm sóc bản thân, hòa nhập và trưởng thành. Đây cũng là lựa chọn của nhiều phụ huynh muốn con tự lập hơn, phát triển toàn diện hơn. Các trường nội trú tại Hà Nội hiện nay như Trí Đức, Trần Quốc Tuấn, THPT FPT… có tỷ lệ học sinh ngoại tỉnh lớn. Tại THPT FPT – mô hình đào tạo nội trú do Tổ chức giáo dục FPT sáng lập không chỉ thu hút học sinh các tỉnh lân cận Hà Nội như Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Thái Nguyên mà còn có sự xuất hiện của nhiều các em từ tỉnh xa như Cao Bằng, Bạc Liêu, Lâm Đồng, TP Hồ Chí Minh… theo học. Môi trường đa dạng vùng miền cũng mang đến một không gian học tập và văn hóa thú vị cho các em cơ hội cùng tìm hiểu, học tập và chung sống trong không khí tôn trọng, tự chủ và tự do.

Cuối cùng muốn nói thêm về bài viết “Vi Hiến…”, người ta thấy rõ hơn bộ mặt thật chuyên nghề kích động, chống phá của Trần Cảnh Chân và những kẻ thuộc cái gọi là “Hội nhà báo độc lập Việt Nam”. Mọi người hãy cảnh giác với những kẻ khoác áo “dân chủ nhân quyền” lợi dụng quyền tự do ngôn luận để ngôn luận tự do, bừa bãi này.

 

Thứ Tư, 24 tháng 5, 2023

Thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới bác bỏ mọi sự xuyên tạc.

  

Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) vừa công bố báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2023, trong đó tiếp tục đưa ra các nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam, như cho rằng chính quyền Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”... Với những thông tin thiếu khách quan đó, USCIRF lại tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC”. Tuy nhiên, thực tiễn đời sống tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam những năm qua đã bác bỏ mọi nhận định, đánh giá sai lệch này.



Tính đến năm 2022, Nhà nước Việt Nam đã công nhận 36 tổ chức tôn giáo, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo cho 4 tổ chức và 1 pháp môn tu hành thuộc 16 tôn giáo; có hàng nghìn nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung (trong đó có các nhóm sinh hoạt tôn giáo tập trung của người nước ngoài cư trú hợp pháp tại Việt Nam); có trên 26,5 triệu tín đồ tôn giáo (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 54 nghìn chức sắc, 135 nghìn chức việc và 29.658 cơ sở thờ tự(8)Hàng năm, trên cả nước có trên 8.000 nghìn lễ hội về tín ngưỡng, tôn giáo. Các tổ chức tôn giáo được tạo điều kiện tham gia các hoạt động an sinh xã hội, chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; hiện các tổ chức tôn giáo có trên 500 cơ sở khám chữa bệnh, trên 800 cơ sở bảo trợ xã hội, 300 trường mầm non.... 

Từ năm 2018 - 2021, cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước đã cấp phép xuất bản 2.027 ấn phẩm về tôn giáo, tín ngưỡng với 7.006.240 bản in, trong đó có nhiều xuất bản phẩm được dịch ra tiếng Anh, Pháp và tiếng dân tộc thiểu số; có 25 tờ báo, tạp chí của các tôn giáo đang hoạt động. 

Các hoạt động phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, thuyên chuyển chức sắc, chức việc; thành lập tổ chức tôn giáo trực thuộc; sửa đổi hiến chương, điều lệ; đăng ký chương trình hoạt động hàng năm... đều được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật.

Quan hệ quốc tế của các tôn giáo ngày càng mở rộng, việc sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam được quan tâm, tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo tăng cường giao lưu, học tập, trao đổi với các tổ chức tôn giáo trên thế giới. Từ năm 2011 đến nay, đã có khoảng gần 2.000 lượt cá nhân tôn giáo xuất cảnh tham gia khoá đào tạo ở nước ngoài, tham dự hội thảo, hội nghị quốc tế liên quan đến tôn giáo; gần 500 đoàn nước ngoài với hơn 3.000 lượt người vào Việt Nam để trao đổi, giao lưu hướng dẫn tại cơ sở thờ tự tại Việt Nam, tham dự các sự kiện tôn giáo do các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam tổ chức. Giáo hội Phật giáo Việt Nam 3 lần đăng cai Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc VESAK, với trên 1000 đại biểu quốc tế đến từ 120 quốc gia, vùng lãnh thổ và hàng vạn người tham dự. Các lễ hội của Công giáo, Tin lành như: Đại hội đồng Giám mục Á châu; Lễ 100 năm Tin Lành đến Việt Nam; phối hợp với Liên minh châu Âu (EU) tổ chức Hội thảo “Tôn giáo Việt Nam trong bối cảnh hội nhập quốc tế, những kinh nghiệm quốc tế được chia sẻ”..

Bên cạnh đó, lãnh đạo Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp của Việt Nam đã đón và làm việc với nhiều tổ chức, chức sắc tôn giáo trong nước và quốc tế cùng các tổ chức nước ngoài như: Viện Can dự Toàn cầu Mỹ (IGE), Tập đoàn truyền thông Đức (WAZ), tổ chức nhân quyền tôn giáo quốc tế... đến trao đổi, tìm hiểu tình hình tôn giáo, chính sách và pháp luật tôn giáo của Việt Nam; trao đổi các vấn đề mà dư luận quốc tế quan tâm. Trong các hoạt động đó, các tổ chức tôn giáo lớn đều bày tỏ thiện chí, ủng hộ, đồng tình với những chủ trương, chính sách, pháp luật liên quan đến đời sống tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam; mong muốn các tổ chức tôn giáo ở Việt Nam phát huy tinh thần “tốt Đời đẹp Đạo” - đóng góp ngày càng nhiều hơn vào sự nghiệp phát triển đất nước.

Từ những lý do nêu trên để chúng ta tiếp tục khẳng định, những “lý lẽ” và cái gọi là “khuyến nghị” của USCIRF “đưa Việt Nam vào danh sách CPC” chỉ là cách nhìn phiến diện, chủ quan, thiếu thiện chí. Các bài viết “a dua” “ăn theo” đăng tải trên các trang mạng phản động thực chất chỉ là sự “thêm bớt”, “xuyên tạc”, cố tình “vẽ rắn thêm chân” của các thế lực phản động, thù địch cũng như những thành phần bất mãn nhằm chống phá sự nghiệp cách mạng của Việt Nam. Chúng ta cần kiên quyết vạch trần và đấu tranh bác bỏ./.

Thứ Năm, 18 tháng 5, 2023

USCIRF - cách nhìn thiếu khách quan, không chính xác về tình hình tôn giáo ở Việt Nam.

  

Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) vừa công bố báo cáo về tự do tôn giáo quốc tế năm 2023, trong đó tiếp tục đưa ra các nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam, như cho rằng chính quyền Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”... Theo đó, những cái gọi là tổ chức/hội/nhóm “tôn giáo độc lập” đã được USCIRF “xướng tên” để “làm ví dụ” như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”, “Cao Đài Chơn truyền”, “Phật giáo Hòa Hảo độc lập”, “Đạo Dương Văn Mình”, “Pháp Luân Công”, “Đạo Hà Mòn”, “Hội thánh Đức Chúa Trời”... Thực chất, đây là những tổ chức khoác áo tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận và không được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; trong đó có nhiều hội/nhóm tà đạo, giả danh, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam. Với những thông tin thiếu khách quan đó, USCIRF lại tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC”.

 


Các thông tin USCIRF sử dụng trong báo cáo đều không có nguồn gốc, chủ yếu là những thông tin xuyên tạc, sai sự thật, được thu thập từ các tổ chức, cá nhân người Việt Nam ở nước ngoài có tư tưởng thù hận, bất mạn, nuôi dã tâm chống phá Nhà nước Việt Nam.

 

Có nhiều cách tiếp cận về tôn giáo, dưới góc độ là một tổ chức xã hội, ở Việt Nam có thể phân chia làm hai loại: 1) các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được và chưa được Nhà nước công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2) tổ chức giả danh tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Trên cơ sở đó, Đảng, Nhà nước ta có quan điểm, chính sách, pháp luật cụ thể như sau:

 

Với các tôn giáo, tổ chức tôn giáo được công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, Đảng, Nhà nước ta luôn quan tâm, tạo mọi điều kiện thuận lợi cả việc Đạo và việc Đời. Luật Tín ngưỡng, Tôn giáo năm 2016 ghi rõ: “Tổ chức đã được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo khi đáp ứng đủ các điều kiện sau đây: 1. Hoạt động ổn định, liên tục từ đủ 5 năm trở lên kể từ ngày được cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo; 2. Có hiến chương theo quy định tại Điều 23 của Luật này; 3. Người đại diện, người lãnh đạo tổ chức là công dân Việt Nam thường trú tại Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; không trong thời gian bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính trong lĩnh vực tín ngưỡng, tôn giáo; không có án tích hoặc không phải là người đang bị buộc tội theo quy định của pháp luật về tố tụng hình sự; 4. Có cơ cấu tổ chức theo hiến chương; 5. Có tài sản độc lập với cá nhân, tổ chức khác và tự chịu trách nhiệm bằng tài sản của mình; 6. Nhân danh tổ chức tham gia quan hệ pháp luật một cách độc lập”.

 

Với các tôn giáo, tổ chức tôn giáo chưa được Nhà nước công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo, hệ thống chính trị các cấp hướng dẫn họ hoạt động theo quy định của pháp luật, địa phương, hỗ trợ về mọi mặt, nhất là mặt pháp lý, xét, công nhận, cấp chứng nhận đăng ký hoạt động tôn giáo. Đồng thời, chúng ta cũng có các quy định nhằm chấn chỉnh, xử lý khi họ có những sai phạm, vi phạm quy định của pháp luật. Đây cũng là điều mà các thế lực thù địch, phản động vu cáo Đảng, Nhà nước “kiểm soát”, “sách nhiễu”, cấm “bán công khai” về tôn giáo ở Việt Nam.

 

Với các tổ chức đội lốt, giả danh tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng ta đã xác định rõ trong Nghị quyết: “Nghiêm trị mọi âm mưu, hành động chia rẽ, phá hoại khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cản trở sự phát triển của đất nước”, “Kiên quyết đấu tranh và xử lý nghiêm minh những đối tượng lợi dụng tôn giáo chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ xã hội chủ nghĩa; chia rẽ, phá hoại đoàn kết tôn giáo và khối đại đoàn kết toàn dân tộc”. Hiến pháp năm 2013 ghi rõ: “Mọi hành vi chống lại độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ, chống lại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đều bị nghiêm trị”. Điều 24 của Hiến pháp cũng ghi: “1. Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. 2. Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật”. Bộ Luật Hình sự năm 2015 xác định: Người nào thực hiện hành vi: “Gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa người theo các tôn giáo khác nhau, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức chính trị - xã hội” nhằm chống chính quyền nhân dân, thì bị phạt tù từ 7 năm đến 15 năm. Luật Tín ngưỡng, tôn giáo năm 2016 cũng xác định các hành vi bị nghiêm cấm: “1. Phân biệt đối xử, kỳ thị vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo. 2. Ép buộc, mua chuộc hoặc cản trở người khác theo hoặc không theo tín ngưỡng, tôn giáo. 3. Xúc phạm tín ngưỡng, tôn giáo. 4. Hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo: a) Xâm phạm quốc phòng, an ninh, chủ quyền quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, môi trường; b) Xâm hại đạo đức xã hội; xâm phạm thân thể, sức khỏe, tính mạng, tài sản; xúc phạm danh dự, nhân phẩm của người khác; c) Cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ công dân; d) Chia rẽ dân tộc; chia rẽ tôn giáo; chia rẽ người theo tín ngưỡng, tôn giáo với người không theo tín ngưỡng, tôn giáo, giữa những người theo các tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau. 5. Lợi dụng hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo để trục lợi”.

 

Như vậy, những thành phần mà các thế lực phản động, thù địch, thiếu thiện chí gọi là “các tổ chức tôn giáo độc lập”, “bị Đảng, Nhà nước Việt Nam phân biệt, đối xử, đàn áp” thực chất là những cá nhân, hội/nhóm cóhoạt động chống phá Đảng, Nhà nước, chế độ ta; họ câu kết với các tổ chức phản động ở nước ngoài để tán phát các tài liệu phản động; họ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để tập hợp lực lượng chống đối, gây rối, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống xã hội nói chung, sinh hoạt - hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của đồng bào có đạo nói riêng; họ góp phần phá hoại sự bình an, hạnh phúc của nhân dân và tác động xấu đến truyền thống văn hóa dân tộc, gây mất ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội...

Những quy định nêu trên trong pháp luật Việt Nam hoàn toàn phù hợp với văn bản, quy định các công ước quốc tế về nhân quyền, như Khoản 3 Điều 18 Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị ghi rõ: “Quyền tự do bày tỏ tôn giáo hoặc tín ngưỡng chỉ có thể bị giới hạn bởi những quy định của pháp luật và những giới hạn này là cần thiết cho việc bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức của công chúng hoặc những quyền và tự do cơ bản của người khác”

 

Ở Việt Nam cũng như bất cứ quốc gia nào trên thế giới, công dân phải tuân thủ hiến pháp, pháp luật. Chức sắc, tín đồ các tôn giáo là công dân Việt Nam nếu có những hành động cản trở công cuộc đổi mới, không “ích nước, lợi dân” đều bị xử lý theo pháp luật. Theo đó, các cá nhân, tổ chức bị xử lý là vì vi phạm pháp luật, chứ không phải là vì theo hay không theo tôn giáo nào. Điều này vừa thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật, vừa là cơ sở khẳng định thái độ rõ ràng, dứt khoát của chúng ta trong đấu tranh loại bỏ cái xấu, cái ác trong xã hội, tạo môi trường sinh hoạt tôn giáo bình thường, lành mạnh cho đồng bào theo tôn giáo.

 

Việc USCIRF đánh đồng các hội nhóm chống phá đất nước đội lốt tôn giáo thành “tổ chức tôn giáo độc lập”, đòi quyền “tự do tôn giáo” cho những thành phần này đã cho thấy rõ động cơ thiếu khách quan, thiếu thiện chí của họ với Việt Nam.

Thứ Hai, 15 tháng 5, 2023

USCIRF lại can thiệp nội bộ Việt Nam

 

 Đầu tháng 5/2023, Ủy ban Tự do tôn giáo quốc tế Mỹ (USCIRF) lại phát hành báo cáo  đưa ra các nhận định thiếu khách quan, sai lệch về tình hình tôn giáo Việt Nam, dựa vào đó tiếp tục khuyến nghị Bộ Ngoại giao Mỹ đưa Việt Nam vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC”. Với cách nhìn phiến diện, thiếu thiện chí, USCIRF cho rằng chính quyền Việt Nam đã “tăng cường kiểm soát và đàn áp”, “đàn áp tôn giáo một cách nghiêm trọng”, “sách nhiễu, bức hại”, “ép buộc”, “tước đoạt tài sản”... Theo đó, những cái gọi là tổ chức/hội/nhóm “tôn giáo độc lập” đã được USCIRF “xướng tên” để “làm ví dụ” như “Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất”, “Hội đồng Liên tôn Việt Nam”, “Cao Đài Chơn truyền”, “Phật giáo Hòa Hảo độc lập”, “Đạo Dương Văn Mình”, “Pháp Luân Công”, “Đạo Hà Mòn”, “Hội thánh Đức Chúa Trời”... Thực chất, đây là những tổ chức khoác áo tôn giáo, hoạt động trái pháp luật, không được Nhà nước công nhận và không được cấp đăng ký hoạt động tôn giáo; trong đó có nhiều hội/nhóm tà đạo, giả danh, đội lốt tín ngưỡng, tôn giáo để trục lợi, chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa (XHCN) ở Việt Nam.



 Lợi dụng việc này, các trang mạng phản động đã đăng tải nhiều bài viết xuyên tạc về tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.

Đối với những cá nhân mà USCIRF cho là “tù nhân tôn giáo”. Họ là ai? 

Đây là một số người Thượng và người Mông theo đạo Tin Lành (Tin Lành Đềga) và một số chức sắc trong các tôn giáo có những hoạt động sai trái, vi phạm cả việc Đạo và Đời, bị xử lý theo pháp luật hiện hành của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Những cá nhân này cũng đã bị các tổ chức tôn giáo kỷ luật, tín đồ lên án, tẩy chay... 

 Theo giọng điệu của các trang mạng phản động, những “nhận định” của USCIRF được “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo Việt Nam bày tỏ sự đồng tình”. Tuy nhiên, cái gọi là “Giới hoạt động cho tự do tôn giáo...” lại chỉ là những kẻ lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá Đảng và Nhà nước Việt Nam. 

 Hành động của USCIRF không chỉ là đánh giá không chính xác, thiếu thiện chí về tình hình tôn giáo ở Việt Nam của USCIRF; mà còn là hành vi can thiệp vào công việc nội bộ của Việt Nam.

 USCIRF là cơ quan tham vấn độc lập do Quốc hội Mỹ thành lập và là “cánh tay nối dài” của Bộ Ngoại giao Mỹ nhằm phục vụ cho việc “cải thiện nhân quyền” ở các nước mà Mỹ cho là “cần quan tâm đặc biệt”. Từ năm 2012 đến nay, Việt Nam liên tục bị USCIRF đề nghị đưa vào danh sách “Các nước cần quan tâm đặc biệt - CPC” bất chấp những thành tựu về đảm bảo các các quyền tự do tôn giáo, tín ngưỡng của Việt Nam đã được cộng đồng quốc tế ghi nhận. Trong các báo cáo hàng năm về tự do tôn giáo tại Việt Nam, USCIRF thường đưa ra những nhận định sai lệch, rằng Việt Nam “đàn áp tôn giáo trong nước”. Cùng với việc lớn tiếng phê phán “chính quyền và công an Việt Nam vi phạm nhân quyền”, USCIRF còn thể hiện “sự quan tâm đặc biệt” đến những kẻ mà họ gọi là “tù nhân lương tâm”, “tù nhân tôn giáo” - thực chất đây chỉ là các đối tượng vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng xấu đến đời sống chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và khối đại đoàn kết của nhân dân Việt Nam.

 Hiến chương Liên hợp quốc, Khoản 7, Điều 2 đã nêu rõ: “Tổ chức Liên hợp quốc không có quyền can thiệp vào công việc thực chất thuộc thẩm quyền nội bộ của bất kỳ quốc gia nào”. Theo đó, không can thiệp vào công việc nội bộ của quốc gia khác cũng là nghĩa vụ đặt ra cho tất cả các thành viên cộng đồng quốc tế.

 “Công việc thuộc thẩm quyền nội bộ của quốc gia” là các phương diện hoạt động chủ yếu của nhà nước dựa trên cơ sở chủ quyền quốc gia, bao gồm toàn bộ những hoạt động mang tính chất đối nội, đối ngoại và được tiến hành phù hợp với luật pháp của đất nước đó cũng như pháp luật quốc tế; trong đó có việc quản lý điều hành hoạt động của xã hội theo quy định của pháp luật quốc gia. “Nguyên tắc không can thiệp vào công việc nôi bộ”bao gồm nhiều nội dung, như: Cấm can thiệp vũ trang và các hình thức can thiệp hoặc đe doạ can thiệp khác nhằm chống lại chủ quyền, nền tảng chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của quốc gia; Cấm dùng các biện pháp kinh tế, chính trị và các biên pháp khác để bắt buộc quốc gia khác phụ thuộc vào mình; Cấm tổ chức, khuyến khích các phần tử phá hoại hoặc khủng bố nhằm lạt đổ chính quyền của quốc gia khác; Cấm can thiệp vào cuộc đấu tranh nội bộ ở quốc gia khác; Tôn trọng quyền của mỗi quốc gia tự lựa chọn cho mình chế độ chính trị, kinh tế, xã hội và văn hoá phù hợp với nguyện vọng của dân tộc.

 Như vậy, việc pháp luật Việt Nam xử lý các đối tượng có hành vi chống phá Nhà nước, trong đó có các đối tượng lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để chống phá, là công việc nội bộ của Việt Nam. Việc các tổ chức/hội/nhóm hải ngoại lớn tiếng rêu rao, “vinh danh” những kẻ vi phạm pháp luật, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân Việt Nam không chỉ là hành vi can thiệp một cách vô lý vào công việc nội bộ của một quốc gia độc lập, có chủ quyền, mà còn thể hiện một thái độ thiếu thiện chí, cố tình hướng lái dư luận theo những mục đích xấu.